RSS

LSDN – Cung Quan Lộc

Tác giả: AnKhoa
Nguồn: lysodoanhnhan.com

Bài này do kiba_119 dịch, VDTT chỉnh lý tại tuvilyso.org.
Lưu ý là các thông tin mang tính tham khảo, xem một lá số là một bức tranh tổng thể có tính phối hợp, không thể chỉ dựa vào một sao, một cung, có thể phán đoán được chính xác và đầy đủ.

Cung Quan Lộc có cát tinh miếu vượng địa tọa thủ, như gặp Tả Phù, Hữu Bật và Tử Vi đồng cung, hoặc Tử Vi Hóa Quyền, ắt là nhân vật quan chức cao quý, nếu như cùng lúc có Không Vong Ác Sát tinh thủ, chỉ là chức vị hư huyền, ngoài thì hào hoa mà trong thì hư. Nếu như có Văn Xương, Văn Khúc nhập miếu (cung Tị, Dậu, Sửu) thủ Quan Lộc thì chắc chắn quyền quý. Nếu như đồng thời có hung sát tinh cùng cung, phải phòng quan lộ không thuận sướng, trong cái tốt tiềm ẩn cái xấu. Xương Khúc nhập Quan Lộc chủ điềm cát, thường thuộc hàng quyền quý văn chức, nếu như có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng và các sao tốt, lại gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền thì đại quý. Cung Quan Lộc có các sao Vũ Khúc, Tử Vi, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Tả Phù, Hữu Bật thủ chiếu, chủ võ quý, trong quân đội nắm được quyền lớn. Cung Quan Lộc có cát tinh tọa thủ, cung Mệnh tam phương đồng thời có sát, cát, hung tinh thì tốt xấu không đều, nhưng vẫn không làm mất đi cục, nhiều vị là quan lại địa phương, cán bộ cơ tầng, cận kề danh tiếng, theo đuổi thương nghiệp cũng có thể làm một ông chủ nhỏ, nhưng cuối cùng khó thành tựu lớn.

Các sao ở cung Quan Lộc, nếu như gặp ác tinh như Tứ Sát Không Kiếp, người quyền quý đường quan lộc sẽ bị hạn chế, hoặc thành bại đa đoan. Phải xem miếu vượng lợi hãm và cát tinh nhiều ít ra sao, thì mới có thể biết được người đó sự nghiệp lớn hay nhỏ, thông thuận hay không. (Chú: dịch giả dùng chữ “thông thái” là theo nguyên bản bạch thoại, tiếc là “thông thái” tiếng Việt có nghĩa hiểu biết, nên tôi tạm sửa thành thông thuận, hiểu là hanh thông và tốt đẹp).

Lưu niên Đẩu Quân đến Cung Quan Lộc nguyên thủy, gặp Cát tinh thủ chiếu, người có quan chức chủ đường quan lộc năm đó hanh thông, người bình thường thì chủ sự nghiệp thuận lợi. Gặp hung sát thì chủ năm đó sự nghiệp không thuận lợi, thậm chí có thể vị giáng chức hoặc có chuyện phá tài.

TỬ VI

Người có Tử Vi nhập cung Quan lộc, cả đời sự nghiệp tương đối bình ổn. Người này có năng lực xử lí công việc và năng lực độc lập làm việc rất tốt, thường là quan chức chính phủ, lãnh đạo xí nghiệp lớn, chủ doanh nghiệp tư nhân, thương nhân. Tử Vi nhập Miếu Vượng địa, gặp các sao như Xương Khúc, Phù Bật, Khôi Việt, Tam Thai, Bát Tọa củng chiếu thì đường quan lộc hanh thông, quý đến cực phẩm, trung lão niên càng thêm phát đạt. Người có cách cục không tốt bằng, cũng là nhân viên làm cơ quan chính phủ, có chút quyền quý, nếu kinh doanh cũng khá giả. (chú: “phú túc” là khá giả, có của ăn của để thôi, chưa thể gọi là giàu có như bản dịch nguyên thủy). Có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Mã đồng cung hội chiếu, là quan chức cấp cao, đại viên tài chính, cự phú thương nghiệp. Tử Vi Hóa Quyền, tất liên hệ quyền bính, nhiều sao tốt thì đại quý. Tử Vi Hóa Khoa, vinh danh truyền khắp (có tính hư danh), dễ phát triển trong giới chính trị, văn hóa, sự nghiệp công chúng. Phàm có Tử Vi nhập cung Quan Lộc, đại đa số đều hợp với các công việc một mặt. Tử vi nếu như không có Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc, phú quý đều ít.

Đồng cung với Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt, quý về Văn, sự nghiệp thuận lợi. Khôi Việt đồng cung, thường làm việc tại ngân hàng, giữ trách nghiệm tài chính. Sát tinh đồng cung hợp võ chức. Cung mệnh tam phương tứ chính hội nhiều Sát tinh, thì người không phú quý, nếu như Cát Hung hỗn tạp, như có thành tựu thì cũng gian khổ không suôn sẻ, tinh thần bị áp lực nặng nề.

Thêm các sao ác Tứ Sát Không Kiếp, cả đời sự nghiệp không thuận lợi lắm, hay trải qua khó khăn, nhưng không đến mức quá tai hại, vì Tử Vi có tác dụng hóa giải. Người có nhiều hung tinh thì sự nghiệp bình thường, chẳng có phú quý gì đáng nói, ngược lại gặp khó khăn nghiêm trọng, hoặc ngoài hào hoa trong hư rỗng, danh không đúng thực.

Tử Vi Thiên Phủ tại Dần Thân, cung Mệnh tất có Vũ Khúc. Gặp cát tinh, được cát hóa thì lợi cả văn lẫn võ, tất là mệnh phú quý, một đời địa vị hiển hách, tài quan đều đẹp. Trong quân đội, chính giới, công thương, xí nghiệp, tài chính, xây dựng v.v… đều nắm được quyền lớn. Nếu không gặp cát tinh thì chỉ là nhân viên bình thường.

Tử Vi Tham Lang tại Mão Dậu, cung mệnh tất có Vũ Khúc Phá Quân. Là người lắm kỹ xảo đầu cơ, thích mạo hiểm để cầu may mắn. Gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Phù, Bật đồng cung có thể đại phú quý, văn võ đều tốt, quyền quý không ít, trong thực nghiệp và chính giới có thể dương danh. Nếu như gặp Tham Lang Hóa Kỵ, sự nghiệp thăng trầm phong ba, hay gặp cản trở khó khăn. Nếu như không có thêm cát tinh, thì kĩ nghệ lập thân, một đời không thuận lợi.

Tử Vi, Thiên Tướng tại Thìn Tuất, cung mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Thiên Phủ. Hợp võ chức, theo đuổi chính trị hoặc kinh doanh thương nghiệp, thêm Cát tinh thì có thể là đại thương gia, quan lớn, danh lợi gồm thâu. Nếu không gặp Cát tinh mà gặp Sát tinh, phú quý không nhiều. Dương Đà Hỏa Linh đồng cung, sự nghiệp khó mong hiển đạt, cung mệnh tam phương cũng cũng không có cát tinh thì có cuộc đời bình thường.

Tử Vi Thất Sát tại Tị Hợi, cung mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Tham Lang. Cả đời sự nghiệp từ đầu đến cuối luôn không được bình yên mấy. Tuổi trẻ không thuận, sau 30 tuổi thì bắt đầu hưng thịnh lên, thích hợp làm kinh doanh. Thêm Lộc Tồn, Tả Hữu có phát triển lớn, làm võ chức thì quý hiển, cung Mệnh gặp Hỏa Linh có thể trở thành người giàu có. Nếu không gặp cát tinh thì bình thường.

Tử Vi Phá Quân tại Sửu Mùi, cung Mệnh chắc chắn là Vũ Khúc, Thất Sát. Là người sáng tạo hơn người, trong sự nghiệp thì dục vọng, ham muốn vô hạn, lại không hòa thuận với cấp trên. Một đời thành lắm bại nhiều, tuyệt không thuận lợi. Nếu hội nhiều cát tinh thì phát đạt trong cảnh cạnh tranh khốc liệt, nếu gặp Xương Khúc Tả Hữu thì sự nghiệp xán lạn huy hoàng. Nếu không có thêm Cát tinh thì sống cuộc đời khó khăn vất vả.

Thiên Cơ

Thiên Cơ chủ yếu là động, ở cung Quan Lộc sự nghiệp tương đối nhiều biến đổi, tất nhiên trong đời nhiều lần thay đổi công việc, hoặc hay thuyên chuyển, hoặc làm nhiều công việc một lúc, hoặc làm nghề nghiệp tự do. Miếu Vượng địa thì sự nghiệp thành công thuận lợi.

Tả Hữu đồng cung hoặc hội họp thì giỏi quy hoạch, xử lý những công việc phức tạp, có thể có quyền lực và địa vị, thường kiêm nhiều công việc. Xương Khúc đồng cung hoặc hội họp quý hiển và nổi tiếng, thích hợp với công việc trong các ngành văn hóa, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, có thể có thành tựu tương đối cao. Khôi Việt đồng cung hoặc hội họp, trong công việc hay gặp quý nhân, ít khi gặp phiền phức, rắc rối. Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội họp chủ đại quý, nhất định là quan chức cấp cao, nhân vật chính giới quan trọng, nổi tiếng thiên hạ.

Thiên Cơ bình hòa tại Tị Hợi, là người không dễ có nghề nghiệp ổn đinh, hay chuyển chức, đổi nghề, thay đổi hạng mục kinh doanh, thiếu tính ổn định.

Thiên Cơ hãm địa hoặc gặp Hóa Kỵ, hoặc gặp Không Kiếp, địa vị không cao, tất là người không có nghề nghiệp ổn định, thường thất nghiệp hoặc không tìm được công việc. Nếu gặp thêm Sát tinh thì càng xấu hơn, chỉ có thể làm nhân viên cấp dưới, du thủ du thực không nghề nghiệp, không có thành tựu gì, vì vậy mà tất nhiên khốn khổ.

Thiên Cơ, Thái Âm tại Dần Thân, cung Mệnh tất có Thiên Đồng. Có lợi cho các công việc công chức, phục vụ các cơ quan có tính chất tương đối ổn định, thêm Thiên Mã thì hay phải đi công tác, nếu hội nhiều cát tinh thì tài quan song mỹ. Thiên Cơ hóa Khoa, nhất định làm quan chức quản lí hành chính. Khoa Quyền Lộc hội họp, công danh hiển đạt, đại phú đại quý. Gặp Tứ Sát, Hóa Kỵ, bôn ba đến già, sự nghiệp không thuận lợi.

Thiên Cơ, Cự Môn tại Mão, Dậu, cung mệnh tất có Thiên Đồng. Sự nghiệp hay có nhiều biến động, ở Mão thì tốt hơn ở Dậu, cung Dậu phúc không dài lâu. Có thể theo đuổi các công việc văn hóa, nghệ thuật, quảng cáo, tiêu thụ…, nếu làm thương nghiệp thì có thể là người quản lý.

Gặp Văn Xương Văn Khúc, chủ văn chương cái thế. Ba sao Khoa Quyền Lộc hội họp thì cự phú đại quý, nổi danh trong ngoài. Lộc Tồn đồng cung thì phú quý, dễ làm chính trị. Nếu gặp Sát tinh công việc nhiều cạnh tranh, hợp kinh doanh.

Thiên Cơ Thiên Lương tại Thìn Tuất, cung Mệnh tất có Thiên Đồng, Thái Âm. Cung Thìn tốt hơn cung Tuất. Nếu có Thiên Cơ, Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa hoặc hội Lộc Tồn thì có phú quý. Thích hợp đảm nhận các công việc quản lý. Khoa Quyền Lộc gia hội đời sống tất có kỳ ngộ, cự phú đại quý. Mệnh lạc hãm không sao cát thì không kể. Sao cát phù trợ không đủ là nhân viên hạng thường về quản lý, quảng cáo, kinh doanh tiêu thụ. Nếu không có cát tinh, hoặc các hung tinh hội tụ, thì chủ nghèo khó, cả đời gian khổ. Thiên Cơ ở Thìn gặp Hóa Kỵ, lại không có cát tinh thì thay đổi công việc liền liền, không việc gì thành công.

Thái Dương

Thái Dương chủ về quan lộc, nhập cung Quan Lộc có số nắm quyền, tùy vào miếu hãm mà tình hình khác nhau. Nhập Miếu Vượng địa, gặp các cát tinh như Phù bật, Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc thủ chiếu, đại quý, là quan cấp tỉnh bộ trở lên, sự nghiệp vĩ đại. Hãm địa gặp các cát tinh thủ chiếu thì không mất đi phú quý, nhưng phú quý không bằng được Miếu Vượng địa, mà phúc không dài lâu. Gặp các sao ác Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kỵ thì chủ địa vị thấp kém, phù hoa mà không thực, không có gì gọi là phú quý hay thành tựu.

Thái Dương Miếu Vượng địa, gặp Tứ Sát Không Kiếp, chịu gian khổ, bận bịu, không thuận lợi, nhưng vẫn có thể khắc phục nghịch cảnh, có thời phú quý. Thái Dương Miếu Vượng địa có Hóa Quyền, Hóa Lộc là điềm cực cát. Gặp Hóa Kỵ, chủ cạnh tranh, áp lực, thị phi, nếu như Miếu Vượng, có thể gặp thành công ngoài dự kiến. Nếu không Đắc địa hoặc Hãm địa gặp Hóa Kỵ, chủ thất bại nặng nề. Thái Dương và Thiên Hình đồng cung, đại đa số là quân nhân hoặc nhân viên cảnh vụ.

Thái Dương tại cung Ngọ thủ Cung Quan Lộc, còn gọi là “Nhật lệ trung thiên”, có cái quý của kẻ chuyên quyền, có thể nắm quyền lớn quốc gia, chủ đại phú, có Lộc Tồn đồng cung hoặc hội Lộc Tồn, hoặc gia hội Tả Hữu Xương Khúc, quý không diễn tả được. Nếu không hội cát tinh, chỉ khá giả bình thường thôi. Người này hay kết giao bạn bè, không chuyện gì vẫn bận cuống lên, không có việc thì mua việc vào người.

Thái Dương Thái Âm tại Sửu Mùi, Mệnh Vô Chính Diệu có đối cung Cự Môn Thiên Cơ, một đời sự nghiệp hay biến đổi, chuyển nghề chuyển nghiệp liền liền. Thêm Xương Khúc Tả Hữu, hoặc Thái Dương Thái Âm có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, là quan chức chính phủ cấp cao, nắm quyền lực chính trị quốc gia.

Thái Dương, Cự Môn tại Dần Thân, Mệnh Vô Chính Diệu đối cung Thiên Cơ Thiên Lương. Hợp với các nghề miệng lưỡi, học nghề chuyên môn thành danh, sự nghiệp thường có danh nhiều hơn lợi, quý nhiều hơn phú.

Không có Sát tinh hội họp thì có thời phú quý, Thái Dương Hóa Lộc chủ đại quý, Hóa Quyền Lộc hoặc thêm Tả Hữu Xương Khúc cũng chủ đại phú quý, tất là bậc lương đống của đất nước.

Gặp Tứ Sát Không Kiếp Kỵ thì không đẹp, có thể làm nghề trái (VDTT chú thích: tức nghề khác thường) hoặc y bốc mệnh tướng.

Cung Dần tốt hơn Thân, cung Dần vận tốt tương đối dài, còn cung Thân thì tiến thoái thăng trầm không ổn định.

Thái Dương Thiên Lương tại Mão dậu, cung Mệnh tất có Thái Âm. Ở Mão tốt hơn ở Dậu, không gặp hung sát chủ cả đời sự nghiệp hưởng phúc. Gặp Lộc Tồn Xương Khúc cát hóa, chủ cự phú hoặc đại quý, nổi danh thế giới. Ở cung Dậu thì bình thường, hậu vận đuối sức, đẹp mà không thực, chủ hư hoa phù ảo, khó được đại phú quý.

Vũ Khúc

Vũ Khúc nhập Miếu, đồng cung với Xương Khúc Phù Bật, chủ võ chức hiển quý, nắm quyền lớn trong quân đội, cục cảnh sát, hoặc đảm nhiệm những công việc quan trọng tại cơ quan tư pháp, bạo lực.

Người bình thường kinh doanh, buôn bán, cũng chủ sự nghiệp phát đạt. Nếu hội Khoa Quyền Lộc, có thể là quan về tài chính, đứng đầu trong giới tài chính, người kinh doanh có thể trở thành tỉ phú, lãnh đạo xí nghiệp thương nghiệp.

Cung Tài Bạch có Vũ Khúc, có không ít người làm việc ở ngân hàng hoặc các bộ môn tài chính khác. Vũ Khúc Miếu Vượng địa nếu không gặp cát tinh cũng chủ sự nghiệp thông đạt, phát triển ổn định từng bước. Vũ Khúc Hóa Lộc, chủ phú quý song toàn. Vũ Khúc Hóa Quyền cực đẹp, hiển thị quyền quý, là nhân vật tay sắt (chú: nắm quyền nghiêm khắc). Vũ Khúc Hóa Kỵ là xấu nhất, sự nghiệp nhiều thị phi, ít nhất cũng một lần đổ vỡ thất bại.

Gặp các sao ác như Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Đại Hao thì đa mưu nhưng ít thành công, bị tranh chấp khó khăn, nếu tam phương lại không có cát tinh hội hợp thì địa vị bình thường, không luận là quý hiển. Vũ Khúc hãm địa cũng vậy.

Vũ Khúc Thiên Phủ tại Tý Ngọ, cung Mệnh tất có Liêm Trinh. Được sao tốt củng chiếu thì phú quý, là người nhiệt tình với sự nghiệp, thích hợp xử lý ngoại vụ, thích hợp kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn.

Đồng cung với Lộc Tồn hoặc Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Khoa thì sự nghiệp vĩ đại, hoặc thêm Tả Hữu Xương Khúc thì chủ phú quý, thu được cả danh lẫn lợi, nắm quyền lực, đường sự nghiệp hanh thông. Thêm Khôi Việt thì làm việc ở Bộ Tài chính. Thêm các sao ác sát Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường. Vũ Khúc hóa Kỵ thì sự nghiệp thăng trầm không thuận lợi, người làm quan tất có tai họa về quan.

Vũ Khúc Tham Lang tại Sửu Mùi, cung Mệnh tất là Liêm Trinh Phá Quân. Trong khi làm việc thường có những hành vi vi phạm pháp luật, bất chính, phú quý tất cũng là quan tham ô vô lại hoặc gian thương. Chủ công việc hay biến động, tuổi trẻ thường thăng trầm, không ổn đinh. Được sao cát củng chiếu thì tốt đẹp, kinh doanh có thể thu được lợi lớn. Sợ thêm Sát Kỵ.

Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần Thân (chú: Bản bạch thoại đánh sai thành Thìn Tuất), cung Mệnh tất có Liêm Trinh Thiên Phủ. Thêm cát tinh thì sớm nắm quyền lớn, sự nghiệp hanh thông, chủ quyền quý, tài quan cả 2 đều đẹp.

Vũ Khúc Thất Sát tại Mão Dậu, cung mệnh tất là Liêm Trinh Tham Lang. Sự nghiệp hay biến đổi thăng trầm, xa hương lập thân có thể phát triển. Hợp kinh doanh, làm công việc đầu cơ, hoặc công việc có tính chất mạo hiểm, nguy hiểm. Đồng cung với Lộc Tồn, chủ phú quý. Được sao cát quyền quý, lập công danh. Kình Dương cùng thủ thì có tai họa tù ngục.

Vũ Khúc Phá Quân tại Tị Hợi, cung Mệnh tất là Liêm Trinh Thất Sát. Sự nghiệp có nhiều phức tạp và thay đổi. Thích nhất là Vũ Khúc Hóa Quyền, chủ cả đời quyền quý, Tài Quan đều đẹp. Nếu gặp Thiên Hình, làm quân nhân thì phát đạt. Thêm Quyền Lộc Xương Khúc Tả Hữu thì quý hiển. Nếu không thêm cát tinh thì chủ sự nghiệp bình thường, khó có thành tựu, làm nhân viên bình thường hoặc tiểu thương, hoặc nghề khéo an thân.

Thiên Đồng

Thiên Đồng là phúc tinh, nhập cung sự nghiệp không hoàn mỹ, tính chất cơ bản hợp tự do, không làm việc trong môi trường chịu hạn chế, khó có thể quản lý chỉ huy các thuộc bộ, như làm chức vụ quản lí thì khó có thể phát huy năng lực. Thiên Đồng nhập miếu, văn võ đều được, nếu hội chiếu có Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa thì chủ đại phú đại quý, thiên hạ biết danh tiếng. Nếu Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt đồng cung hoặc gia hội thì sự nghiệp hưng vượng, hay được giúp đỡ, vận khí cực đẹp, chủ thành công và phú quý. Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp đồng cung hoặc gia hội thì đường sự nghiệp tương đối kém, lắm trì trệ không thông, địa vị không cao, là người bình thường. Nếu như Hãm địa lại thêm Tứ Sát Không Kiếp, thì làm việc gì cũng thất bại, không gì là thành công.

Thiên Đồng ở cung Quan Lộc, không ít người làm ở giới truyền thông, giải trí, văn hóa nghệ thuật. Cục Mệnh thành cách, chủ có đại phú quý. Cục mệnh không thành cách mà không có cát tinh thủ chiếu thì cuối cùng vẫn là người bình thường.

Thiên Đồng Thái Âm tại Tý Ngọ, Mệnh vô chính diệu, đối cung có Cự Môn Thái Dương. Hai sao này miếu vượng địa ở Tý, kinh doanh buôn bán hay làm công chức đều tốt, có thể có danh tiếng địa vị, gặp Lộc Tồn thì chủ phú quý. Cung Ngọ thì 2 sao này hãm địa, nếu không có các sao tốt thì khó có phú quý, một đời lao khổ.

Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu Mùi, cung Mệnh vô chính diệu, đối cung có Thái Dương Thiên Lương. Hai sao cùng hãm, lúc trẻ sự nghiệp không ổn định, thường hỏng giữa chừng hoặc hay gặp chuyện điều động chuyển việc, trung niên trở ra có thể tự tay lập nghiệp trong gian khổ. Không thêm cát tinh, cát hóa thì cả đời địa vị thấp kém, thành tích có hạn. Bất luận có gặp cát tinh hay không, lòng nhiệt tình tận tâm trong công việc cũng không nhiều.

Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần Thân, cung mệnh tất có Thái Âm. Hợp công chức, đảm nhiệm công việc quản lý. Hội Khoa Quyền Lộc thì trong sự nghiệp là người có vận khí đẹp lạ lùng, anh hùng tái thế, đại phú đại quý, nắm quyền lớn trong quân đội chính quyền nhà nước. Tả Hữu Xương Khúc gia hội thì có thể đạt được thành tựu trên chính trị. Nếu gặp Tứ Sát Không Kiếp, là nhân viên kĩ thuật hoặc hợp kinh doanh.

Liêm Trinh

Liêm Trinh là chủ Quan Lộc, nhập cung Quan lộc đều có cơ hội nắm quyền. Nếu không gặp Sát tinh, thì là người coi trọng hiệu quả công việc, có thể phát huy năng lực trác việt, hợp với công việc quản lý.

Nếu gặp Dương Đà Không Kiếp thì sự nghiệp không thuận lợi, thị phi không ngớt, làm chuyện gì cũng khó thành.

Nếu hãm địa lại thêm Sát tinh thì không có công danh, phải đề phòng chuyện thị phi quan chức.

Liêm Trinh Hóa Kỵ và Thất Sát, Tứ Sát, Thiên Hình đồng cung tại cung Quan Lộc thì có họa ngục tù, bức hại chính trị.

Liêm Trinh tại Dần Thân, nhập Miếu, cung Mệnh là Tử Vi Thiên Tướng. Chủ quyền quý võ chức, kinh doanh đại quý, hội chiếu cùng cát tinh thì phú quý song toàn. Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc đồng cung với Lộc Tồn thì chủ đại phú đại quý. Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung thì tuổi trẻ khó thành công lớn, tuổi già vượng phát.

Liêm Trinh Thiên Phủ tại Thìn Tuất, cung Mệnh tất là Tử Vi. Có năng lực quản lí ưu tú, tuổi trẻ sự nghiệp không ổn đinh, trung niên đến nơi khác thì phát triển, có thể thu được thành công ngoài mong đợi. Được nhiều cát tinh tụ chiếu thì văn võ phú quý. Liêm Trinh Hóa Lộc, Võ chức quý hiển, kinh doanh đại phát. Phù Bật Xương Khúc xung chiếu (VDTT chú: Xung chiếu đây chỉ có nghĩa hội họp), thì làm chính trị, có thể thành quan lớn. Liêm Trinh Hóa Kỵ, phú quý đều ít.

Liêm Trinh Tham Lang tại Tị Hợi, cung Mệnh tất là Tử Vi Phá Quân. Là người có kĩ năng giao tiếp, có thể là nhân viên công vụ, nhân viên ngoại giao tiêu thụ, tầng lớp cán bộ, cảnh sát, chủ doanh nghiệp tư nhân. Không ít người là quân nhân. Nếu gặp nhiều cát tinh thì kinh doanh hay làm công chức đều được, có thể phát triển được trong môi trường cạnh tranh hoặc thị phi. Nếu thêm Sát tinh thì chức vị nhỏ, hoặc vì vấn đề với người khác phái mà xảy ra tranh chấp, hoặc hành vi bất chính nên bị phạt. Hóa Kỵ thêm Sát tinh thì chắc chắn ngồi tù.

Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tý Ngọ, cung mệnh tất là Tử Vi Thiên Phủ. Hội hợp cát tinh, gia hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì cự phú đại quý. Gặp Tả Hữu Xương Khúc thì văn võ đều tốt, quyền quý có thời.

Kình Dương đồng cung chỉ hợp buôn bán. Hỏa Linh đồng cung tất là tham quan ô lại. Không Kiếp Đồng cung, sự nghiệp ngoài đẹp trong rỗng.

Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu Mùi, cung Mệnh tất là Tử Vi Tham Lang. Hợp trong quân đội lập công, nếu có thêm cát tinh thì chủ công danh hiển đạt. Khoa Lộc Quyền hội hợp thì cự phú đại quý. Tả Hữu Xương Khúc đồng cung hoặc gia hội thì văn võ đều tốt, sự nghiệp hưng thịnh.

Liêm Trinh Phá Quân tại Mão Dậu, cung Mệnh tất là Tử Vi Thất Sát. Sự nghiệp có nhiều khó khăn, nếu gia hội cát tinh thì trong gian khổ có thể lập được đại công. Nếu Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Tồn, Hóa Lộc hội hợp thì văn võ đều tốt, sớm nắm uy quyền, chủ phú quý. Kinh doanh cũng phát hoạnh tài đại quý. Nếu không có cát tinh thì phúc không được lâu dài. Thêm sát tinh thì người bình thường.

Thiên Phủ

Thiên Phủ vào cung Quan Lộc chủ cát lợi, chỉ cần không gặp Sát tinh thì nhất định sự nghiệp có thành tựu. Nhập Miếu được nhiều cát tinh thủ chiếu là bậc tài năng văn võ, công danh hiển hách, nếu không làm công chức mà làm thương nghiệp cũng luận là phát đạt. Gia Tứ Sát Không Kiếp thì không đẹp, sự nghiệp nhiều trở ngại thăng trầm và hay tranh chấp, nếu hội chiếu nhiều sát tinh thì chủ nghèo khổ, không nghề nghiệp địa vị đáng nói, chung quy thuộc hạng người bình thường.

Thiên Phủ tại Sửu Mùi, Mão Dậu, gia hội Lộc Tồn Tả Hữu hoặc Xương Khúc, chủ đại phú đại quý.

Thiên Phủ tại Tị Hợi, có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt gia hội thì đại phú đại quý, nếu không gặp cát tinh thì trong sự nghiệp là người tương đối cẩn trọng bảo thủ.

Thái Âm

Sự nghiệp tương đối bình ổn, nhập miếu luận tốt, được Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa củng chiếu thì chủ quyền quý, không công hầu tất là vương. Đồng cung hoặc gia hội với Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt thì có thể có địa vị cao, một đời có danh tiếng. Thái Âm nhập cung cung bình nhàn (VDTT chú: Nhàn ý là kém, kiểu Việt Nam “ngồi chơi xơi nước”), hội Xương Khúc Tả Hữu cũng là người quan quý. Thái Âm nhập miếu vượng, Sát tinh ít, có Tả Hữu gia hội, lại hội Lộc Tồn thì có thể vô cùng giàu có trong công thương nghiệp. Thái Âm hãm địa thì đường sự nghiệp không đẹp, làm nhiều mà thành quả ít, nếu lại gặp Tứ Sát Không Kiếp tất là người bình thường.

Thích hợp đảm nhiệm các công việc suy nghĩ tư duy, kế hoạch. Đồng cung với Xương Khúc thì có thể đạt được thành công trong công việc văn hóa, học thuật, công chúng. Nếu như lại gặp Long Trì Phượng Các nữa thì có thể nổi danh trong giới nghệ thuật. Tả Phù Hữu Bật tương hội thì có thể phát triển trong giới chính trị. Cùng Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Cơ tương hội thì có thể làm công chức hoặc làm việc trong những xí nghiệp lớn. Thái Âm Hóa Lộc, không những sự nghiệp thành công mà còn thu được danh lợi, tài vận rất tốt. Thái Âm Miếu Vượng địa có Hóa Quyền, chủ quan quý, thêm Tả Hữu Xương Khúc thì phú quý xuất chúng. Thái Âm Hóa Khoa, tiếng tăm lẫy lừng, có thể theo đuổi nghệ thuật hoặc học thuật, nghiên cứu khoa học.

Tham Lang

Cách cục khai sáng, sự nghiệp thăng trầm nhiều biến đổi. Không thích hợp với những công việc ổn định, đơn điệu và bình thường. Hay làm những nghề nghiệp không bị thúc bó, có thể biến hóa, giàu tính đầu cơ, mạo hiểm, có rất nhiều mối quan hệ trong giao tiếp, tiệc tùng mà hình thành công việc, có thể kết giao với người quyền quý, quan chức chính phủ.

Nhập Miếu thì sự nghiệp sớm hưng thịnh, có thể đạt được nhiều cơ hội bất ngờ mà thành công. Gặp Hỏa Linh đồng cung, Văn Võ chức quyền quý, đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng, phú quý song toàn. Tam phương tứ chính không có Dương Đà Không Kiếp mà hội Khoa Quyền Lộc thì là nhân vật quan trọng trong giới chính trị hoặc thương gia giàu có. Nếu gặp Tả Hữu Khôi Việt thì sự nghiệp phát triển thuận lợi, cơ hội may mắn nhiều. Tham Lang Bình hòa hoặc Hãm, không có cát tinh đồng cung thì sự nghiệp không bình ổn, làm nhiều mà công lao ít, nếu như tam phương có cát tinh thì có thể phát triển thương nghiệp. Thêm Xương Khúc thì chủ kế hoạch hỗn loạn, chính sự đảo điên. Dương Đà, Không Kiếp đồng thủ, là người bình thường, khó có sự nghiệp, thành công đáng kể.

Cự Môn

Sự nghiệp vất vả, làm các nghề liên quan đến ăn nói, giao thiệp, kế hoạch, nghiên cứu, kĩ năng học thuật v.v… Nhập Miếu Vượng thì sau khi vất vả phấn đấu có thể đạt thành công, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì kinh doanh hoặc làm công chức đều có thể nắm quyền, phát đạt. Cự Môn thích nhất Hóa Quyền, là hiện thân của uy quyền, có tài năng phi phàm, lợi cho việc dương danh trong các giới tư pháp, y học, học thuật. Gia hội các cát tinh Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền thì chủ đại phú hoặc đại quý. Đồng cung hoặc hội chiếu với Tả Hữu, Xương Khúc thì chủ quý hiển hoặc đạt được thành công trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, văn học nghệ thuật, truyền thông đại chúng, y bốc mệnh tướng.

Cự Môn là Ám tinh, thương gia hay lén lút làm nhiều việc ngầm hoặc kinh doanh không minh bạch, kinh doanh bất hợp pháp, hoặc trốn thuế. Hãm địa thì bôn ba, trong cuộc việc nhiều đối thủ cạnh tranh, khó có ngày thành công, nếu gặp cát tinh thì trung niên trở ra được ổn định. Hãm địa gia Tứ Sát Không Kiếp thì tốn công tốn sức, không chuyện gì thành công. Cự Môn Hóa Kỵ, không hòa thuận với cấp trên, làm việc hay có tranh châp, lời qua tiếng lại, không thuận lợi, phá bại, nếu gặp Tứ Sát Kiếp Không, chủ gặp chuyện quan phi, tố tụng, ngục tù.

Thiên Tướng

Là người phụ tá khá tài năng , sự nghiệp an định, bình ổn ít thay đổi, thường đảm nhận các công việc tại cơ quan công gia, xí nghiệp quy mô lớn, thích hợp với chức phó về hành chính quản lý, thư ký. Không hợp lãnh đạo, hoặc là danh là chính thực là phụ.

Thiên Tướng nhập Miếu, đồng cung hội chiếu với Tả Hữu Xương Khúc thì được người kính trọng, chủ phú quý, kinh doanh hoặc làm công chức đều có thành tựu lớn, có thể có lương cao. Hội chiếu Khoa Quyền Lộc, hợp theo đuổi chính trị, làm quan cao lộc hậu, kinh doanh thì là cự phú. Nếu không có thêm cát tinh người thường cũng chủ sự nghiệp ổn đinh, cuộc sống khá giả. Miếu Vượng gia Sát tinh thì chỉ hợp theo nghề buôn. Thiên Tướng hãm địa, thành bại đa đoan, thêm Sát tinh thì không tốt, chỉ là người bình thường.

Thiên Lương

Là người cẩn thận tỉ mị, giỏi xử lý những vấn đề khó, có thể đảm nhận những chức vụ quan trọng.

Thiên Lương ở cung Ngọ nhập Miếu, hội Phù Bật Khôi Việt, kiêm văn võ, hợp làm chính trị, gặp thêm Khoa Quyền Lộc thì chủ đại quý, là nhân vật quan trọng trong giới chính trị. Đồng cung gia hội với Tả Hữu Xương Khúc thì quý hiển, có thể phát huy trong cơ quan hành chính, hệ thống pháp luật, cơ cấu y liệu, xí nghiệp quy mô lớn. Thiên Lương Hóa Khoa, chủ thanh quý, danh nhiều hơn lợi. Thiên Lương Hóa Lộc thì phú quý. Hóa Quyền, là người có thực quyền, nếu hội Lộc Tồn thì có thể là thương gia giàu có. Nhập Miếu Vượng, nếu không có thêm cát tinh, người thường cũng chủ sự nghiệp bình ổn an định, có thể hưởng cảnh sung túc.

Thiên Lương hãm địa, hội Cát tinh thì cũng không mất phú quý, nếu không gặp cát tinh thì chủ sự nghiệp vất vả bận rộn, thành công nhiều thất bại cũng nhiều. Hội cùng Tứ Sát Không Kiếp thì không có địa vị, công việc khó khăn lao khổ, tai nạn phá hao, khó thành tựu, chỉ là người bình thường.

Thất Sát

Là cách cục khai sáng, không thích hợp với các công việc ổn định, bình thường, thường chọn các công việc tự do, không bị hạn chế, hoặc theo đuổi các công việc có tính mạo hiểm, hay thay đổi, có tính đầu cơ. Tuổi trẻ sự nghiệp hay thăng trầm thay đổi, thiếu sự an định, trung niên trở ra thì có thể thuận lợi. Nên tha hương xuất ngoại, có thể có cơ hội thành công. Đại đa số tay trắng mà làm nên gia sản, từ không thành có.

Thất Sát nhập miếu thì đắc cách. Nếu gặp nhiều sao tốt thủ chiếu thì quyền quý không ít. Hợp võ không lợi văn, hội cát tinh thì nổi bật trong giới quân đội cảnh sát, hoặc buôn bán làm ông chủ, nếu kinh doanh thương nghiệp thì có thể giàu có. Thất Sát đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt chủ quyền bính, nắm quyền sinh sát, sự nghiệp hưng thịnh.

Đồng cung với Lộc Tồn thì phú quý song toàn. Gia hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì anh hùng cái thế, vang danh thế giới. Thất Sát Miếu Vượng địa đồng cung với Hỏa Linh thì chủ võ chức uy phong, nhưng thường gặp nguy hiểm, thị phi, kinh doanh có thể giàu có nhưng hay lên voi xuống chó.

Thất Sát Bình nhàn lại gia hội Tứ Sát Không Kiếp, thì tầm thường, nếu lại đồng cung hoặc hội Hóa Kỵ chủ họa ngục tù.

Phá Quân

Cách cục khai sáng. Một đời sự nghiệp thăng trầm, gian khổ, chắc chắn không thuận lợi. Hợp những công việc mạo hiểm, công nghiệp, thương nghiệp. Nhập Miếu có Võ chức lớn, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì phú quý không ít. Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng chiếu thì là trọng thần quốc gia. Đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, Khôi Việt thì có năng lực quản trị, kinh doanh hay làm công đều được, phú quý song toàn. Nếu cát tinh ít thì không quý, chỉ là nhân viên bình thường, hoặc làm kinh doanh cá thể. Đồng cung Văn Xương, Văn Khúc, sự nghiệp vất vả không thuận lợi.

Đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kỵ thì chủ vất vả, trở ngại, thị phi, phá bại, đa mưu mà ít khi thành, sự nghiệp nhất định gặp phải nhiều lần thất bại lớn, kỵ đầu tư mạo hiểm, hợp kĩ nghệ lập thân. Cung Mệnh nếu không có thêm Cát tinh, cung Quan Lộc Phá Quân đồng cung với Dương Đà thì là người nợ nần, làm gì cũng khó thành.

Văn Xương, Văn Khúc

Hai sao nhập Miếu, có danh tiếng địa vị, gặp Thái Dương, Thái Âm đồng cung hội chiếu thì chủ quyền quý, chức vị cấp tỉnh bộ. Gặp nhiều sao tốt như Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Tả Phù Hữu Bật thì là người tài năng văn võ, phú quý bất phàm. Hai sao này cùng với cát tinh đồng thủ thì tăng may mắn tốt đẹp, kỵ gặp Phá Quân. Nếu Hãm địa thì không đẹp, thích hợp phát triển ở các phương diện văn hóa, học thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chiêm bốc.

Tả Phù, Hữu Bật

Có tài năng quản lý ưu việt, làm việc ổn định chắc chắn, công việc thuận lợi, có thể được đại chúng cổ vũ. Kinh Doanh hoặc làm công chức đều tốt, nếu được cát tinh đồng cung càng tốt, có các sao tốt Tử Vi Thiên Phủ củng chiếu thì văn võ đều giỏi, Tài Quan đều đẹp. Đồng cung với Thiên Đồng, Văn Xương thì là kỳ cách văn chương, nổi danh thiên hạ. Gia Tứ Sát thì thành bại bất nhất, nếu gặp Không Kiếp thì chủ bị giáng chức.

Thiên Khôi, Thiên Việt

Trong công việc luôn gặp quý nhân, đặc biệt nhận được sự giúp đỡ của cấp trên, bậc tôn trưởng, gặp khó khăn gì cũng từ hung thành cát. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quý. Gia Tứ Sát thì thành bại thăng trầm, gia Không Kiếp Hình Kỵ là người bình thường.

Hóa Lộc

Là điềm đại cát, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, uy quyền, phát đạt, thuận lợi. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp, có thể duy trì thịnh vượng dài lâu không suy thoái, ít gặp trở ngại hoặc bất toại ý, đồng thời biết cách sử dụng tiền bạc, sự nghiệp phát triển, có thể đạt được thành tựu tương đối cao về tài phú, địa vị, danh tiếng. Sao nào hóa Lộc ở cung Quan Lộc thì dấu hiệu may mắn tốt đẹp của sao ấy tăng gấp bội. Nếu có Lộc Tồn, Thiên mã, Hóa Quyền, Hóa Khoa gia hội thì đại phú đại quý.

Hóa Quyền

Là điềm đại cát, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, uy quyền, phát đạt, thuận lợi. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp, là người làm việc cẩn trọng, giỏi về kế hoạch, làm kinh doanh, ít khi thất bại, năng lực quản lí mạnh, có thể có chức vị cao. Sao nào hóa Quyền ở cung Quan Lộc thì tín hiệu tốt của sao đó tăng gấp bội. Gia hội Cự Môn, Vũ Khúc, Hóa Khoa, Hóa Lộc thì đẹp không tả nổi, có thể phát triển ngoài mong đợi, quan vận hanh thông. Gia hội Hóa Lộc, Hóa Khoa thì là bậc lương đống quốc gia, chắc chắn có quý.

Hóa Khoa

Là điềm đại cát, là hiện thân của thành công, thịnh vượng, phát đạt, thuận lợi, danh tiếng. Một đời sự nghiệp vận khí cực đẹp. Là người có học thức chuyên môn hết sức ưu tú, với công việc có năng lực tính toán tốt, có tầm nhìn tốt, dễ nhận được sự đánh giá tốt của cấp trên, đồng nghiệp và người ngoài. Sao nào hóa Khoa ở cung Quan Lộc thì tín hiệu tốt của sao ấy tăng gấp bội. Là người có thể danh ghi bảng vàng. Gia hội Hóa Lộc, Hóa Quyền và Xương Khúc thì chắc chắn quý hiển. Hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt thì nổi danh thiên hạ. Hóa Khoa và Dương Đà, Không Vong, Hóa Kỵ đồng cung là hãm, là có tài năng nhưng khó có thể phát huy.

Hóa Kỵ

Là điềm không tốt, công việc hay gặp phải sự cố, trắc trở, thất bại, phá hoại, chắc chắn không thể thuận lợi. Nếu được nhiều cát tinh nhập Miếu Vượng, cát hóa thì có thể hóa giải nhưng cũng không thể khiến những bất lợi do Hóa Kỵ mang lại biến mất hẳn được.

Lộc Tồn

Là điềm đại cát, trong công việc có thể nhận được sự trợ giúp về vật chất, là người giỏi quản lý, sử dụng tiền bạc, không thích hoang phí, dễ tích lũy tiền bạc, công việc phát triển thuận lợi, có thể đảm nhận chức vị cao, hoặc kinh doanh xí nghiệp quy mô lớn. Lộc Tồn độc thủ, thường làm trong bộ Tài chính, Ngân hàng, hoặc làm các công việc quản lý tài chính, là quan chức về tài phú. Lộc Tồn nếu được nhiều cát tinh miếu vượng thủ chiếu thì tất là bậc tài năng văn võ, lương đống quốc gia, Tài Quan đều đẹp. Gia Hỏa Linh Không Kiếp thì thăng trầm, tốt xấu bất nhất, đặc biệt kỵ gặp Không Kiếp.

Kình Dương, Đà La

Điềm hung, một đời sự nghiệp nhiều trắc trở, hay thay đổi, không thuận lợi, thường gặp phiền phức, dễ đối lập với cấp trên, gây phản cảm với đồng nghiệp, người dưới mà bị ép từ chức hoặc mất việc, hoặc thu nhập thấp. Nhập Miếu thì lợi cho Võ chức hoặc kinh doanh, cũng có thể làm những ngành có tính thay đổi, nguy hiểm hoặc tiêu hao thể lực, không lợi cho các công việc Văn chức. Nếu được nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ có quyền quý.

Hai sao trên hãm địa thì bôn ba vất vả qua ngày, trong sự nghiệp thường gặp tổn hại, sự cố, làm công việc bình thường, địa vị không cao, chuyển chức, không an định, thu nhập ít, môi trường làm việc khắc nghiệt, một đời làm nhiều mà thành ít, hãm địa gia cát tinh thì chỉ có hư danh, khó có thể phát triển mạnh. Gia Hỏa Linh Không Kiếp chủ người bình thường, nghèo khó.

Hỏa tinh, Linh tinh

Điềm không tốt, công việc làm nhiều thành ít, bị đối xử bạc bẽo, môi trường khắc nghiệt, tuy rằng có công việc nhưng khó dài lâu.

Hai sao này nhập miếu thì tuổi trẻ thành bại thất thường, tuổi già công việc toại ý. Hội Tử Vi, Tham lang miếu vượng thì chủ cát lợi. Nhập miếu hội nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ quyền quý hiển hách.

Hai sao này Hãm địa thì cả đời địa vị thấp kém, sự nghiệp không an định, hay bị chuyển chức, khó được dùng đúng chỗ, thường không hài lòng với công việc hiện tại. Gặp Dương Đà Không Kiếp thì một đời khốn đốn, khó khăn, nhiều phong ba.

Địa Kiếp, Địa Không

Điềm hung về sự nghiệp hư không, một đời công việc không ổn định, thường thay đổi công việc, việc làm chẳng có ít nhiều lợi ích gì đáng nói, thường gặp trở ngại hoặc thất bại, khó có thể thành đại sự đại nghiệp. Mệnh có cát tinh mà gặp Không Kiếp dù có phú quý nhất thời cũng nhất định có thất bại tương đối lớn, hoặc là tiền tài bị phá to, hoặc là đắc tội với cấp trên mà bị trách phạt, hoặc học nhằm cái không dùng được nên khó phát huy. Xấu nhất là 2 sao này đồng cung tại cung Quan Lộc hoặc cùng tại tam phương của cung mệnh. Nếu chỉ gặp một trong hai sao mà trong cung có chính tinh Miếu Vượng thì độ hung tương đối nhỏ.

Kết thúc phần “Cung Quan Lộc”.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Tám 2, 2012 in Nghiên cứu Tử Vi

 

LSDN – TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA PHỤ TINH

Tác giả: AnKhoa
Nguồn: lysodoanhnhan.com

Về tính chất cơ bản của những phụ tinh quan trọng. Bao gồm:

– Trợ tinh: Tả Hữu, Khôi Việt
– Tá tinh: Xương Khúc, Lộc Mã
– Sát tinh: Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp
– Tứ hóa: Lộc Quyền Khoa Kỵ

Văn Xương – Văn Khúc

Văn Xương (tức văn quế) thuộc Kim, Nam Đẩu, chủ khoa giáp, là sao đỗ đầu văn. Văn Khúc (tức văn hoa) thuộc Thủy, Bắc Đẩu, sao chủ khoa giáp. Hai sao này nhập miếu ở Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất lạc hãm.

Người có Văn Xương hay Văn Khúc nhập Mệnh cung, mày thanh mắt đẹp, nho nhã, có phong thái của danh sĩ, học rộng nhớ nhiều, thông minh ham học, có tinh thần nghiên cứu, cơ biến dị thường, có thể tranh biện, cũng dễ dàng thành công, thân vinh quý hiển, một đời phúc thọ song toàn, dù bị Tứ Sát xung phá, cũng không hạ tiện.

Xương Khúc nhập Mệnh là người có hứng thú ưa thích văn học nghệ thuật như thơ ca, tản văn, âm nhạc, hội họa, nhảy múa, diễn tấu, học thuật, kĩ nghệ… khả năng biểu đạt cao. Văn Khúc còn mang ý nghĩa đào hoa, Văn Xương thì không.

Văn Xương chủ người đoan trang thanh tú, kiến thức rộng, đầu óc mẫn thiệp, phúc thọ đều có. Văn Xương thủ Mệnh, hãm địa hội nhiều hung tinh, cũng chủ mồm mép, cơ xảo, bản lĩnh hơn người.

Văn Khúc nhập Mệnh, có duyên với y học chiêm tinh tướng học, tôn giáo, huyền học, tâm lý học, nếu có Thái Âm, Tham Lang, Thiên Đồng đồng cung thì càng rõ ràng. Vì vậy sách có viết: “Văn Khúc Thái Âm đồng cung, cửu lưu thuật sĩ”.

Văn Khúc Văn Xương, là người đa học đa năng, nếu như một trong hai sao hãm địa đơn thủ Mệnh Thân, lại hội hung tinh Dương Đà Hỏa Linh Địa Kiếp đồng cung hay xung phá thì giỏi mồm mép ngụy biện, thường tranh cãi với người khác, có chết cũng không chịu thừa nhận lỗi sai của mình, hoặc tự cho mình thanh cao, câm hận thế tục, đa phần là những người có tài nhưng không gặp thơi, hào nhoáng mà không thực, danh lợi đều chỉ là hư ảo. Vì vậy sách có viết: “Xương Khúc hãm cung hung sát phá, hư dự chi long”.

Văn Xương Văn Khúc, nữ mệnh không hợp, tuy thông minh tài hoa, cơ xảo lanh lợi, nhưng thủy tính dương hoa, dễ thu hút đám ong bướm, đào hoa, vì vậy sách có viết: “Nữ nhân Xương Khúc, thông minh phú quý chỉ đa dâm”, “Dương phi háo sắc, tam hợp Văn Xương Văn Khúc”.

Thiên Khôi – Thiên Việt

Thiên Khôi Thiên Việt thuộc Hỏa, nam đẩu trợ tinh. Hai sao này là sao quý nhân, Thiên Khôi là trú quý, tức Thiên Ất quý nhân; Thiên Việt là dạ quý, tức Ngọc Đường quý nhân. Thiên Khôi Thiên Việt không phân mạnh yếu, là sao thượng cát, bất luận ở cung nào đều có tác dụng tốt đẹp.

Nếu Mệnh Thân có sao này, chủ thông minh tài trí, vẻ ngoài uy nghi, xinh đẹp thanh bạch, tính cách nhân từ, khí chất nhã nhặn thanh cao, hòa hợp với mọi người. Nam thì anh tuấn, nữ thì xinh đẹp đoan trang, một đời tất hay được quý nhân giúp đỡ. Một trong hai sao Khôi Việt thủ Mệnh cung, thân hình hơi gầy, mặt tròn, cằm nhọn. Khôi Việt ở Mệnh Thân, tất người ham học, càng được nhiều cát tinh đồng cung, tam hợp nhiều cát tinh thủ chiếu thì thuận lợi lớn cho thi cử, tuổi nhỏ đã đỗ đạt khoa cử. Hội Hung Kỵ, không là tú tài văn chương thì cũng là trò cưng của thầy. Nói chung hai sao này, nếu nhập Mệnh Thân cung, tuy không phú quý, cũng chủ thông minh, vẻ ngoài ổn trọng, được người khác tôn trọng kính nể.

Nữ mệnh Khôi Việt thủ Mệnh, thường được sự trọ giúp của quý nhân, trong đó đặc biệt là sự giúp đỡ của người khác phái. Thiên Việt có mang sắc thái đào hoa, còn Thiên Khôi thì không.

Khôi Việt Phụ Bật là phúc thọ, các sao trên ở Mệnh Thân cung, phúc thọ song toàn.

Tả Phụ – Hữu Bật

Hai sao trên đều thuộc Thổ, Nam Bắc đẩu, Thiện tinh.

Hai sao này không phân mạnh yếu miếu hãm, bất luận ở cung nào đều có tác dụng tốt đẹp, vào cung nào giáng phúc cung đó, nhập tứ mộ thì đặc biệt tốt. Người sinh tháng 4, Tả Phụ Hữu Bật đồng cung tại Mùi; người sinh tháng 10 đồng cung tại Sửu; người sinh giữa tháng 7, xung chiếu ở cung Thìn Tuất; người sinh tháng 6, Tả Hữu ở hai cung Tỵ Dậu hội chiếu; người sinh tháng 8 và tháng 12, Tả Hữu ở hai cung Hợi Mão hội chiếu.

Nhập Mệnh thì dung mạo đoan trang thanh tú, sắc mặt trắng vàng, mặt tròn dài, thân hình trung bình hay hơi cao, không béo không gầy. Là người phúc hậu, nhân từ chính trực, hào phóng thân thiện, tấm lòng rộng lượng, khoan dung. Làm việc gì cũng có trật tự, ổn trọng cẩn thận, tính kế hoạch cao. Tính hay giúp người, thích làm việc thiện, trượng nghĩa, một đời hay được quý nhân phù trợ, mà nhận được sự giúp đỡ của người khác phái nhiều.

Nữ mệnh hội cát tinh, vượng phu ích tử.

Kình Dương

Kình Dương còn có tên là “yểu thọ sát”, thuộc kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Hình. Kình Dương là một trong Tứ Sát, cũng là một hung tinh. Tại Tỵ Ngọ Mão Dậu hãm địa, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ Thân Mệnh, tính tình thô bạo, cơ mưu xảo trá, thích tranh đấu tàn nhẫn, coi tình thân bạc như vôi, trở mặt lấy ân báo oán. Nhập miếu, tính cương quả quyết, chủ quyền quý. Cư Tý Ngọ Mão Dậu hãm địa, tức tác họa tai ương, hình khắc thậm tệ. Kình Dương nhập Mệnh, Thân cao thể cường tráng, phá tướng, đầu và tứ chi có thương tích, nhập miếu thì béo tốt, hãm địa phá tướng nặng, hoặc mắt mù, hoặc mặt có sẹo hay đốm. Kình Dương nhập miếu, chủ hoạnh thành hoạnh phá, đa phần thường thiếu chân thành, tính tham lam giả dối, hết sức tính toán, lấy oán báo ân, tính gấp gáp, to gan lớn mật, thích chuốc thị phi hoặc có xung đột với người thân bạn bè, thích đi vào chỗ nguy hiểm, tâm lý phản kháng mạnh, có khuynh hướng phạm tội.

Nữ mệnh nhập miếu hội cát tinh quyền quý, tuy nhiên không được hoàn mỹ, hãm địa khắc chồng con, cô hình, phá tướng hạ tiện.

Đà La

Đà La còn có tên là “mã tảo sát”, thuộc Kim, Bắc Đầu phù tinh, hóa khí là Kỵ. Đà La là một trong Tứ Sát, cũng là một hung tinh. Tại Dần Thân Tỵ Hợi lạc hãm, Thìn Tuất Sửu Mùi nhập miếu.

Thủ Thân Mệnh, hành động suy nghĩ bất chính, lắm khi nước mắt rơi trong thầm lặng, tính cương uy mãnh, hành sự không dứt khoát, có đầu không có đuôi, hoạnh thành hoạnh phá, phiêu đãng bất định, không là dân bản xứ. Đà La nhập Mệnh, Thân hình cường tráng, mặt vuông tròn, hai gò má khá cao, nhập miếu đa phần béo, lạc hãm thì mặt có vết thương, răng yếu. Tính tình giảo hoạt, giỏi tính toán, đa nghi. Người có Đà La nhập Mệnh, đa phần tâm thuật bất chính, bôn ba khắp nơi. Thích giở trò xảo trá, có tâm ý phản kháng, lời lẽ khoa trương, có thói quen dọa gạt người khác.

Nữ mệnh Đà La, nội tâm tàn nhẫn vẻ ngoài giả dối, xúc phạm chồng khắc con, không thủ đạo làm vợ.

Địa Không – Địa Kiếp

Hai sao trên thuộc Hỏa, Địa Kiếp cũng là thần cướp bóc, Địa Không là thần không vong, đều thuộc hung tinh. Hai sao trên tính chất và chủng loại giống nhau, chủ họa không chủ phúc, chủ khổ không chủ vinh, trong 12 cung chỗ nào cũng hung.

Không Kiếp nhập Mệnh, tác sự hư không, không theo chính đạo, thành bại đa đoan. Một đời làm nhiều mà thành công ít, chuyện gì cũng bỏ dở giữa chừng, hoặc mỗi lần sắp thành công thì lại thất bại, chưa xong việc mà thân đã chết trước, vì vậy sách có viết: “Không Kiếp vi sầu tối hại nhân, trí anh hùng ngộ nhất sinh”.

Trong sự nghiệp, có tư tưởng chây lười và tiêu cực, rất dễ dàng từ bỏ lợi ích của mình, lấy cái tốt nhường cho người khác. Kiếp Không hai sao này tối bất lợi cho tiền tài, thủ Mệnh cung, tài vận không tốt, cả đời không tụ tài, có khuynh hướng lãng phí ném tiền qua cửa sổ. Tâm lý tiêu cực lười hoạt động, thường có trạng thái bi quan không như ý, hoặc hơi có dấu hiệu thần kinh, suy nghĩ quá nhiều, trong xử lý công việc thì rõ ràng hợp lý, lời lẽ có lý nhưng một đời làm nhiều nhưng thành công ít, dễ mặc sai lầm hoặc bỏ qua cơ hội, nhưng rất khó thuận lợi để đạt được lý tưởng của bản thân.

Không Kiếp ở Mệnh, đại diện cho tư tưởng không linh hư vô, dễ tiếp cận với các sự vật triết học, huyền học, thần học, tốn giáo. Nếu như có cát tinh thì thích những nơi yên tĩnh, hay tư duy, phản ứng nhanh, là người có tư tưởng và lý luận vượt qua quy chuẩn thông thường, là nhà không tưởng thiên tài, nhà học vấn, nhà thần học, nhà phát minh. Có sở thích với những sự vật thần bí, có khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo, triết học, thần bí học, chiêm bậc học, khí công học… ở những phương diện này rất có duyên, nhưng người này thường vui đùa không bền chí, hoặc vị tín ngưỡng hay những mê muội của bản thân làm sai lầm một đời, sản sinh tiêu cực, bi quan thậm chí là sai lệch về nhân sinh quan.

Người có Không Kiếp nhập Mệnh, là người trong cuộc sống thường nhật khá lười nhác, không thích làm việc nhà, làm việc không sắp xếp hợp lý, thường vứt đồ đạc của mình lung tung, sau đó lại bỏ thời gian ra tìm kiếm khắp nơi.

Nữ mệnh có một trong hai sao Không Kiếp đơn thủ Mệnh cung hoặc hai sao đồng cung nhập Mệnh, bất luận hội chiếu sao gì, về mặt tình cảm tất có khúc triết hay tranh cãi.

Hỏa Tinh

Là một “Sát thần”, thuộc Hỏa, Nam Đẩu phù tinh. Hỏa tinh là một trong Tứ Sát, cũng là hung tinh. Cư Dần Ngọ Tuất là nhập miếu, cư Tỵ Dậu Sửu là đắc địa, cư Hợi Mão Mùi là ích lợi, cư Thân Tý Thìn là hãm địa.

Hỏa tinh nhập Mệnh, sắc mặt đỏ vàng, mắt to, mặt tròn dài, thân hình trung bình, khá cường tráng. Là người tính tình cương cường xuất chúng, táo bạo hấp tấp, ngoan cố, tự cho mình đúng, tâm địa cay độc, răng miệng tứ chi có thương tích, tàn nhang hoặc có sẹo, râu tóc có chỗ khác thường, ví dụ như tóc nâu đỏ hay tóc xoăn. Nhập 12 hai cung đều không luận là tốt, duy nhập miếu ở cung Tật Ách thì thân thể cường tráng ít bệnh. Đồng cung với Tham Lang miếu vượng nhập Mệnh, chủ có ngày lập công, võ chức quý hiển, kinh doanh hoạnh phát. Hỏa Linh tuy nhập miếu thủ Mệnh, cũng có điều không thuận lợi, thành bại thăng trầm là khó tránh, nếu nhạp cung hãm địa thì hình khắc nghiêm trọng, khắc hại lục thân, dễ rước kiện tung tai họa bất ngờ, có bệnh nặng trong người.

Nữ mệnh Hỏa Tinh, tính cách cương cường, sôi nổi hướng ngoại, dám ăn nói. Hỏa Tinh miếu vượng lại có cát tinh miếu vượng đồng thủ, vượng phu ích tử, là người vợ trinh liệt. Hãm địa thủ Mệnh hoặc đồng cung bới chính tinh lạc hãm, tâm địa thâm độc, lòng dạ xấu xa vẻ ngoài giả dối, xúc phạm chồng khắc con, không thủ phận làm vợ, nhiều thị phi, không trinh khiết.

Linh Tinh

Còn có tên khác là “Sát thần”, thuộc Hỏa, Nam Đẩu phù tinh. Linh Tinh là một trong Tứ Sát, cũng là hung tinh. Cư Dần Ngọ Tuất là nhập miếu, cư Tỵ Dậu Sửu là đắc địa, cư Hợi Mão Mùi là lợi ích, cư Thân Tý Thìn là hãm địa.

Linh Tinh nhập Mệnh, sắc mặt vàng xanh, mặt và người không phù hợp, có chỗ khác lạ kì quái. Là người tính tình cương cường xuất chúng, hấp tấp táo bạo, ngoan cố, tự cho mình là đúng, tâm địa cay độc, lòng đố kỵ lớn, nói chuyện âm thấp, trầm hay khàn, mọi chuyện không bàn chuyện cá nhân, hiểm ác âm mưu, mặt đầu tay chân có vết thương, mặt tàn nhang. Nhập 12 hai cung đều không luận là tốt, riêng cư cung Tật Ách nhập miếu thì luận là thân thể cường tráng ít bệnh. Linh Tinh và Tham Lang miếu vượng nhập Mệnh, có ngày lập công, võ chức quý hiển, kinh doanh hoạnh phát. Tuy nhập đất miếu vượng thủ Mệnh cũng có chỗ bất lợi, thành bại thăng trầm là khó tránh, nhập cung hãm địa, khắc hại lục thân, dễ chuốc tai họa bất ngờ kiện cáo, có bệnh nặng trong người.

Nữ mệnh tính tình cương cường, sôi nổi hướng ngoại, phản lục thân, hình thương chồng con, nhập miếu hội cát tinh thì đầy đủ, lạc hãm thì không trinh khiết, nghèo khó bần tiện.

Lộc Tồn

Lộc Tồn thuộc Thổ, Bắc Đẩu đệ tam tinh, chủ người chức tước cao quý, nắm quyền quản về tuổi thọ. Lộc Tồn là sao đại cát, ở 12 hai cung đều luận là phúc, có chức năng chế hóa giải tai ách. Nhập Mệnh Thân cung, chủ người từ bi phúc hậu, hòa nhã dễ gần, dung mạo chín chắn, thành thật đáng tin, thông minh cương trực, có cơ biến, đa học đa năng, hành sự ổn trọng, nhưng có khuynh hướng hơi bị động. Có quan niệm kinh tế rất mạnh, bản tính tiết kiệm, không thích lãng phí, một đời tài vận khá tốt. Mệnh có sao này, chủ có phú quý, cũng có danh tiếng.

Nữ mệnh Lộc Tồn tọa Mệnh cung, thanh tú xinh đẹp, giỏi giang có thành tựu, giàu có, có thể giữ tiền, có chí quân tử.

Lộc Tồn thủ Mệnh, hỉ đồng cung với Tử Vi, Thiên Tướng, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, Vũ Khúc, chủ phú quý, là thượng cách Lộc Tồn, chính tinh miếu vượng thì càng đẹp, chính tinh lạc hãm thì không đẹp.

Thiên Mã

Sao này có người khởi theo tháng sinh, người sinh tháng Dần Ngọ Tuất Mã ở Thân, người sinh tháng Thân Tý Thìn Mã ở Dần, người sinh tháng Hợi Mão Mùi Mã ở Tỵ, người sinh tháng Tỵ Dậu Sửu Mã ở Hợi, cách dựa vào tháng sinh này đều lấy mùng một là tháng đó, không luận đến tiết khí. Có người khởi theo niên chi năm sinh, người sinh năm Dần Ngọ Tuất Mã ở Thân, sinh năm Thân Tý Thìn Mã ở Dần, sinh năm Hợi Mão Mùi Mã ở Tỵ, sinh năm Tỵ Dậu Sửu Mã ở Hợi. Hai phương pháp này đều đúng, cuốn “Tử Vi đẩu số toàn thư” của Trần Đoàn là dựa theo cách khởi niên chi, là một sao “tuế dịch” trong các sao về năm sinh.

Thiên Mã thuộc Hỏa, tại số chủ binh sĩ. Lâm mệnh thân cung, gọi là dịch mã, chủ người tính tình hoạt bát, hiếu động, một đời thích bôn ba và di động, thường ra ngoài du lịch, công tác, chuyển nhà, chuyển việc… cư cung Thiên Di cũng vậy, đều chủ sẽ đi lại khắp nơi, rời xa quê hương để mưu sự phát triển. Nhập mệnh, hỉ Lộc Tồn, Tử Vi, Thiên Phủ, Văn Xương, Văn Khúc thủ chiếu thì tốt.

Hóa Lộc

Hóa Lộc thuộc Thổ, là thần phúc đức, hỉ gặp Lộc Tồn. Nhập miếu ở Dần Thân, tác dụng tốt đẹp rất lớn, lạc hãm ở cung Tý Ngọ Mão Dậu, tác dụng tốt đẹp khá nhỏ. Nhập Mệnh, là người hiền hòa, giỏi xã giao, nhân duyên tốt, tính tình hào phóng, vui vẻ hài hước, ở ngoài được người khác yêu mến, cả đời hưởng phúc. Hỉ nhập Mệnh, Thân, Quan, Tài, Di cung, chủ phú quý, thứ đến là nhập cung Phúc Đức, Điền Trạch.

Bất kể chính tinh nào hóa Lộc, tác dụng thuận lợi tăng gấp nhiều lần, đặc biệt hỉ Thái Dương, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thái Âm, Tham Lang, Phá Quân Hóa Lộc. Hóa Lộc thủ Mệnh Thân và quan lộc cung, Khoa Quyền tương phùng, tất làm quan to, kinh doanh cũng có thể trở thành phú ông.

Hóa Quyền

Hóa Quyền thuộc Mộc, là thần nắm quyền sinh sát, nhập miếu ở cung Sửu, không có hãm địa. Nhập Mệnh cung, chủ người tính tình ngoan cố, coi trọng quy tắc đạo đức, hành sự ổn trọng, tính nguyên tắc cao, có năng lực thống trị lãnh đạo rất tốt, kiên cường bất khuất, chuyện gì cũng không dễ dàng chấp nhận thất bại, tính tình kì quái, đi đến đâu cũng được mọi người kính trọng khâm phục, dễ được người khác tán thưởng. Hỉ nhập Mệnh Thân cung, Di cung, Quan Lộc, Tài Bạch cung, chủ có quyền thế. Hỉ hội Vũ Khúc, Cự Môn, tất làm đại sự. Sao này ở Mệnh, chuyên chủ quyền thế.

Nữ mệnh Mệnh có Hóa Quyền, trong ngoài vừa ý, hội cát tinh có thể là bậc quý phu nhân.

Hóa Khoa

Hóa Khoa thuộc Thủy, đứng đầu trong thi cử, là thần về văn mặc, hỉ hội Khôi Việt. Nhập miếu vượng ở Sữu Ngọ Thân, hãm ở đất Tuần Không, Triệt Không, Địa Kiếp, Địa Không, Kình Dương, Đà La, Nhật Nguyệt hãm địa. Nhập Mệnh Thân cung, chủ người thông minh ham học, khẩu tài lưu loát, có tài hoa về phương diện ngôn ngữ, văn chương, học tập ưu tú, được đánh giá cao, một đời dễ nổi tiếng. Thủ Thân Mệnh, Quyền Lộc tương phùng, thông minh. Nếu gặp ác tinh, cũng là tú tài văn chương, có thể là giáo viên. Hóa Khoa hỉ nhập Mệnh, Thân, Di cung. Cư Tài Bạch cung, Quan Lộc cung cũng tốt.

Nữ mệnh cát tinh củng chiếu, có thể là quý phu nhân, dù Tứ Sát xung phá, cũng chủ phú quý, không có sát tinh hội chiếu thì dịu dàng thanh tú.

Hóa Kỵ

Hóa Kỵ thuộc Thủy, là sao kế đô, là đa quản chi thần, cũng là một hung tinh, nhập miếu ở Tý Sửu, lạc hãm ở Dần Ngọ Tuất Tỵ Hợi, có thể căn cứ vào sự khác nhau giữa chính tinh trong cung mà có tác dụng khác biệt. Hóa Kỵ nhập mệnh, là người thích suy nghĩ vào ngõ cụt, có xu hướng ngoan cố, cá tính mạnh, thích đố kỵ, hay đa nghi, thích quản chuyện không đâu, quan hệ xã hội không tốt, thường có xung đột với người khác, làm việc khi sắp thành thì lại thất bại.

Hóa Kỵ là sao bất hạnh, thường dẫn đến thất bại, hay gặp các tai họa như không vừa ý toại lòng, thất tình, thất nghiệp, phá sản, xung đột, tranh đấu, bệnh tật, thương tích, làm hỏng, thủ Thân Mệnh, một đời không thuận, hay rước thị phi. Trừ một số trường hợp nhỏ, nhập 12 hai cung thì đâu đâu cũng là hoa, có ý nghĩa phá hoại, duy gặp cát tinh nhập miếu thì có thể giảm bớt cái hung, nếu hội chiếu với hung tinh mà không gặp cát tinh thì không lường trước được tai họa.

Nữ mệnh Hóa Kỵ nhập Mệnh Thân cung, lắm mồm, tính tình lanh lợi. Không hội cát tinh thì một đời vật chất khó khăn, chủ nghèo hèn. Hội hung tinh Hóa Kỵ họa nặng, nhiều cát tinh hội thì tai họa khá nhẹ.

Tứ Hóa vốn là hóa khí của sao, bao gồm 14 chính tinh và 4 trung tinh quan trọng Tả Hữu, Xương Khúc. Nên, Tứ Hóa không được định nghĩa là các sao đơn lẻ, độc lập. Vì vậy, khi nghiên cứu Tứ Hóa rất quan trọng là xem đó là hóa khí của sao nào, mà có những tính chất khác nhau, ví dụ Thiên Cơ hóa Lộc tính chất khác với Phá Quân hóa Lộc. Về phần này, chúng tôi sẽ có một bài viết riêng.

Thiên Hình

Thiên Hình thuộc Hỏa, là một hung tinh, chủ hình yểu cô khắc, hợp nam không hợp nữ, lợi võ không lợi văn. Nếu nhập miếu thì là thiên hỉ thần, tốt đẹp, hỉ đồng cung cùng Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa. Thiên hình cư Dần Mão Dậu Tuất cung là nhập miếu, còn lại là hãm địa.

Thiên Hình thủ thân mệnh, tính tình cương cường cố chấp, rất nguyên tắc, tư tưởng chủ quan. Thiên Hình chủ cô khắc, duyên với cha mẹ, anh em mỏng, có hình khắc với người phối ngẫu, con cái, bạn bè tri kỉ ít. Mệnh hội ác tinh gặp Thiên Hình, có khuynh hướng xấu hơn rõ rệt, không yểu tắc bần, anh em cha mẹ không được toàn vẹn. Sao này tại số là y dược, thủ mệnh thân, hội chiếu với nhiều cát tinh, có hứng thú với y liệu, pháp luật, tôn giáo, cũng dễ thành công ở phương diện này. Thiên Hình chủ hình yểu, nhập miếu thì chủ nắm binh.

Thiên Riêu

Thiên Riêu thuộc thủy, là bại tinh, chủ phong lưu háo dâm. Cư Mão Dậu Tuất Hợi là nhập miếu, còn lại là hãm địa.

Thiên Riêu thủ mệnh thân, có nhan sắc, nữ mệnh gợi cảm, tính tình thâm độc, đa nghi, giỏi quan sát , làm việc bí mật sợ người khác biết, duyên với người khác giới tốt, phong lưu háo dâm. Nhập miếu vượng, nho nhã văn vẻ, học rộng, kiến thức phong phú, xã giao rộng, phú quý lắm kẻ hầu hạ, phúc dày, đam mê tửu sắc, tính thích dâm lạc. Hội ác tinh, tan cửa nát nhà, vì sắc mà gặp họa. Thiên Riêu hội chiếu với Hồng Loan, Thiên Hỉ, Đào Hoa, trọng sắc dục, chìm đắm trong tiền bạc tửu sắc. Đồng cung hay hội chiếu với Hóa Cái, Lộc Tồn, Thiên Mã, Xương Khúc, đa phần thuộc thành phần giới văn nghệ, thu được danh lợi. Người sinh giờ Sửu, Thiên Riêu tất cư mệnh, người sinh giờ Tỵ Dậu Sửu, mệnh cung và tam hợp cung tất có Thiên Riêu, Thiên Hình hội chiếu.

Kết thúc phần “Tính chất cơ bản phụ tinh” !

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 26, 2012 in Nghiên cứu Tử Vi

 

LSDN – TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA 14 CHÍNH TINH

Tác giả: AnKhoa
Nguồn: lysodoanhnhan.com

Tính chất cơ bản 14 chính tinh, trích dẫn và dịch từ cuốn “Tử Vi đại toàn” bởi kiba_119 và AnKhoa chỉnh lý.

1. Tử Vi

Thuộc Thổ, là sao chí tôn trên bầu trời, Nam Bắc đẩu, hóa Đế Tọa, chủ Quan Lộc.
Tử Vi nhập cung Mệnh, mặt dài vuông vắn hay tròn trịa, sắc tím hay trắng xanh, vùng eo có nhiều thịt, béo vừa phải. Vẻ ngoài trung hậu, ổn trọng dày dạn, khiêm cung chính trực, có khí chất tôn quý, có năng lực lãnh đạo tốt, quan hệ giao tiếp rộng rãi nhưng sau khi thành công lại có sự bảo thủ nhất định. Người có Tử Vi nhập Mệnh đều học rộng, lời lẽ nghiêm nghị, có lễ tiết, cho người khác cảm giác có thể tin tưởng. Rất coi trọng danh lợi, khi mưu cầu theo đuổi thì thái độ tích cực nhiệt tình, nhưng một khi đạt được mục đích rồi thì bỏ qua không để ý nữa. Cao ngạo tự đại, hay làm ra vẻ, một mặt tình cách cố chấp, một mặt khác lại dễ bị lay động bởi lời nói của người khác, đây cũng là một trong số những đặc trưng vốn có của Tử Vi. Nữ mệnh Tử Vi, da trắng mịn, hơi béo, vẻ ngoài đoan trang, nhìn vào là tướng quý phu nhân.
Sao Tử Vi có năng lực chế hóa, có thể làm tăng cái tốt đẹp giảm cái xấu xa, dữ hung tinh đồng cung hay gia hội thì có thể làm giảm thiểu tính hung.
Sao Tử Vi là sao đại cát, tượng là bậc quân vương, hoàng đế. Sở dĩ là bậc quân vương nên cần có văn thần võ tướng ở bên hầu cận. Nếu Tử Vi dữ Thiên Phủ, Thiên Tướng, Lộc Tồn, Thiên Mã, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Tọa, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo… đồng cung hoặc gia hội thì rất phú quý. Bởi sách xưa có viết: “ Tử Vi ngộ Thiên Phủ, Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Mã tam hợp cực cát, thực lộc thiên chung, cự phú đại quý”. Tử Vi đặc biệt thích Hóa Quyền, hội Tả Hữu hoặc Xương Khúc, chủ quyền quý, nếu không có cát tinh tương trợ thì gọi là “cô quân”, chỉ là một nhân viên làm công ăn lương.

2. Thiên Cơ
Thuộc Mộc, Nam đẩu đệ tam tinh, hóa khí là Thiện, chủ Huynh Đệ.
Thiên Cơ nhập Mệnh, thân hình vừa phải, trung bình, nhập miếu thì béo, lạc hãm thì tương đối gầy, thông thường ở trạng thái béo vừa phải. Hội cát tinh, tâm tính hiền lành, hiếu nghĩa với lục thân, vẻ ngoài đoan chính ổn trọng, hành sự có phương pháp. Tính cách của Thiên Cơ tương đối gấp, có ý chí ứng biến cơ động linh hoạt, phản ứng đàu óc mẫn thiệp, tốc độ nói nhanh, cuộc sống lao tâm. Ham học hỏi tìm kiếm tri thức, đa học đa năng, nhưng chỉ chuyên tâm vào một thứ thì tốt. Có hứng thú và sự yêu thích với triết học, tôn giáo, các sự vật thần bí. Thiên Cơ tại Mệnh, chỉ cần không hội các hung tinh đồng cung, thì trọng tình cảm, vui vẻ giúp đỡ người khác, tâm tính thẳng thắn bộc trực. Người có Thiên Cơ tọa Mệnh tướng đối giỏi xã giao, lên kế hoạch, phân tích, túc trí đa mưu, hành sự có lí lẽ, có năng lực thiết kế sáng sạo.
Thiên Cơ là một sao động, thường hay suy nghĩ nhiều, đứng núi này trông núi khác, vì vậy có xu hướng không bám sát thực tế. Hội sao xấu thì thích cờ bạc.
Nữ giới có Thiên Cơ nhập Mệnh, tính tình cương cường, nắm quyền trong nhà. Tính tình hiền lành, chăm chỉ hiếu thuận, cơ trí linh hoạt, hay suy nghĩ, đối với người khác nhiệt tình hào phóng, nếu được cát tinh củng chiếu thì vượng phu ích tử, có Quyền Lộc thì là bậc quý phu nhân.

3. Thái Dương

Thuộc Hỏa, Nam Bắc đẩu tinh, tượng là mặt trời, chủ quan lộc.

Thái Dương chủ quý, sau mới đến chủ phú. Người nam chỉ cha, con trai; người nữ chỉ cha, chồng, con trai. Do ánh sáng của mặt trời thay đổi theo 12 canh giờ, cho nên Thái Dương ở cung Dần cũng tựa như mặt trời vào giờ Dần, Thái Dương ở cung Mão tựa là mặt trời vào giờ Mão, lần lượt theo thứ tự như vậy.

Thái Dương nhập Mệnh, chủ người sắc mặc đỏ hồng hay tím hồng, khuôn mặt vuông vắn tròn trịa, thân hình khôi ngô, tướng mạo đường hoàng, trung thành chính trực, không tính toán chuyện thị phi, tấm lòng nhân từ, thích giúp đỡ, từ thiện, hào phóng, chí khí cao ngạo, thường bị người khác hiểu nhầm. Thái Dương được cát tinh thủ chiếu, nếu được Thái Âm đồng cung thủ chiếu thì phú quý song toàn.

Nếu hội nhiều cát diệu thì có thể làm khách hay lui đến những nơi quyền quý, không có cát tinh thủ chiếu, thì thuộc tầng lớp nhân viên nhà nước bình thường.

Thái Dương lạc hãm, lao tâm phí lực, tuy Hóa Quyền Hóa Lộc cũng chủ vất vả khác thường, Thái Dương lạc hãm nếu như vào cung Quan Lộc, địa vị không hiển đạt, là người trước chăm chỉ sau biếng nhác.

Nữ mệnh Thái Dương, có chí hướng trượng phu, có cương có nhu, rất giỏi giang. Cá tính háo thắng, duyên với người khác phái tốt, nhiệt tình hướng ngoại, giao tiếp rộng, thường hay giao du với nam giới. Miếu vượng, vượng phu ích tử, hội Quyền Lộc được phong tặng (đất đai, chức hiệu), cung Phúc Đức có cát tinh chủ lấy được người chồng thông minh sáng suốt.

4. Vũ Khúc

Thuộc Kim, Bắc Đẩu đệ lục tinh, hóa Tài, chủ Tài bạch.

Vũ Khúc thủ Mệnh, đa phần cương cường quả quyết, tâm tính thẳng thắn không dụng tâm, dáng nhỏ giọng nói cao mà to, thích thể thao vận động. Trọng nghĩa khí, có ý chí kiên cường bất khuất, coi trọng chữ tín, lời lẽ hào sảng nhanh gọn, mặt hình vuông.

Nữ mệnh Vũ Khúc nhập Mệnh, một đời vất vả nhiều, đoạt quyền chồng, thích ra lệnh trong nhà, thường coi thường chống. Sau hôn nhân khó mà ở yên trong nhà, hay ra ngoài làm việc. Vũ Khúc nhập Miếu chỉ quyền quý, là quý phu nhân, hội cát tinh thì quả quyết cương nghị, dễ trở nên người phụ nữ cứng rắn. Hãm địa có sát tinh thì cô đơn, hình phu khắc tử, thậm chí trở thành quả phụ. Nếu lại hội thêm Xương Khúc Thiên Diêu Đào Hoa hay Liêm Trinh thủ Thân, không những hình khắc mà còn đào hoa tính nặng.

Vũ Khúc và chư hung tinh hội tụ gây nên họa, cùng chư cát tinh thì thành cát. Đây là sao cương cường, chủ cô khắc, hợp với nam, không hợp với nữ. Nữ mệnh có sao này thì gọi là Quả túc tinh, hội Dương Đà Hỏa Linh, bất lợi cho hôn nhân, hình khắc.

5. Thiên Đồng

Thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ tứ tinh, hóa Phúc, chủ Phúc Đức. Thiên Đồng là một phúc tinh, tại 12 cung đều luận là phúc, có tác dụng chế hóa giải tai ách. Thiên Đồng ở Mệnh, mặt hình vuông tròn, hai má đầy đặn, tính tình ôn hòa, khiêm tốn lễ độ, nhân từ cương trực, tinh thông văn họa, có chí lạ, không hung ác. Nhập miếu thì thân hình béo, lạc hãm thì thân hình trung bình hay lùn. Cái phúc của Thiên Đồng, biểu hiện ở việc người đó có chút lười biếng, đặc biệt là biểu hiện trong cuộc sống thường ngày, chuyện gì cũng lười vận động, có thể kéo dài thì kéo dài, nên mới gọi những người lười là có cái phúc lười, có mang ý nghĩa ngồi hưởng thành quả ở sâu bên trong. Lí tưởng rất cao, suy nghĩ rất kĩ về chuyện tương lai, nhưng hành vi thực hiện thì lại rất ít, thậm chí trở thành kẻ nói suông. Vì vậy nên Thiên Đồng hỉ có sát tinh kích thích, như vậy sẽ khơi dậy được năng lượng của Thiên Đồng để làm nên chuyện.

Đặc điểm của sao Thiên Đồng là tính tình lạc quan, không câu nệ tiểu tiết, ở bên ngoài hay được mọi người yêu quý. Có hứng thú với nhiều thứ, biết cách bằng lòng mà sống vui vẻ, ít khi tức giận, không nhớ những chuyện hận thù, không gây thù chuốc oán, là người hài hước, tự mình cảm thấy vui vẻ. Khuyết điểm là thích tránh những công việc nặng nhọc, làm việc hay băn khoăn, nên khiến cơ hội nhiều khi đến sát bên mình rồi lại biến mất. Nam mệnh Thiên Đồng đơn thủ Mệnh cung thì có chút yếu đuối dễ bắt nạt. Thiên Đồng thủ Mệnh dù ở cung nào, tính tình cũng đều ngây thơ, có lúc giống như một đứa trẻ con. Thiên Đồng nhập Mệnh, bất luận nam hay nữ, đa phần đều trông béo tốt, mũm mĩm, khả năng tự hạn chế bản thân khá kém, dễ bị thế giới bên ngoài cám dỗ. Nữ mệnh Thiên Đồng, khuôn mặt xinh xắn, hơi béo, da trắng, đối xử thân thiết với mọi người, sau trung niên thì béo.

6. Liêm Trinh

Liêm Trinh thuộc Mộc, Hỏa, Bắc Đẩu đệ ngũ tinh, hóa khí là Tù tinh, chủ Quan Lộc, hỉ nhập cung Quan Lộc, ở Mệnh Thân cung, là thứ đào hoa. Người có Liêm Trinh nhập Mệnh, thân hình trung bình, trí nhớ rất tốt, khỏe mạnh cường tráng, mắt lộ, gò má cao. Lông mày rậm mắt to, mồm lớn, mặt vuông hay chữ nhật. Tính cách cao ngạo sơ cuồng, tính tình cứng rắn thẳng thắn, là người cố chấp, đa phần tự cho mình là đúng, không nghe lời khuyên của người khác. Chăm chỉ chịu làm lụng, tình cảm mãnh liệt, thích tự do, thích nói đôi câu công bằng đạo lý ở chỗ công cộng. Tính tình thích phân tranh, khi bất đồng quan điểm với người khác thì sẽ ngay lập tức phản kháng. Quan hệ xã giao có lúc không tốt.

Trên đây chỉ là những đặc tính bình thường của Liêm Trinh, cần phải phối hợp thêm với các sao khác để có kết luận cuối cùng, vì Liêm Trinh có thể âm nhu cũng có thể dương cương. Đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hoặc đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh Tứ Sát, hoặc đồng cung với Hóa Kỵ thì biểu hiện rất rõ các tính chất trên, tính tình ngang ngạnh, lòng báo thù lớn, gấp gáp nông nổi, dễ tranh chấp với người khác, thể hiện rất rõ sự dương cương. Nếu như Liêm Trinh đồng cung với Thiên Tướng, Thiên Phủ, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hay Liêm Trinh Hóa Lộc thì lại biểu hiện đặc tính âm nhu, là người chăm chỉ ổn trọng, dám làm dám chịu, tích cực cầu tiến, đối xử với mọi người ôn hòa thân thiết, tuy cũng có phần cao ngạo nhưng không nhất thiết thể hiện ra bên ngoài. Nếu như hung cát tinh hỗn tạp thì nửa âm nửa dương, vừa chính vừa tà, yêu ghét khó định.

Nữ mệnh Liêm Trinh tọa Mệnh cung, khí chất tốt, cho người khác cảm thấy rất ẩn chứa và thu hút, cơ thể đẹp, ngũ quan đoan chính thanh tú, chính trực, làm việc già dặn, tính tình khá cương nghị.

7. Thiên Phủ

Thuộc Thổ, đứng đầu trong chòm nam đẩu tinh, hóa Lệnh tinh, chủ tài bạch, điền trạch.

Người có Thiên Phủ nhập Mệnh tướng mạo thanh kỳ, thân hình trung bình, mặt hình vuông, dáng người béo tốt đầy đặn. Tính tình ôn hòa, ổn trọng, đứng đắn, tinh thần viên mãn, không câu nệ tiểu tiết, có tình nghĩa và sự cảm thông, nhiều bạn bè tri kỉ, có thể gây dựng được sự tin tưởng, cuộc sống hay được quý nhân tương trợ. Thiên Phủ có tâm thái bằng lòng yên vị với hiện trạng, thiếu sự khai sáng và xung kích lực, phấn đấu đến một mức độ nào đó rồi lười biếng từ bỏ. Có dục vọng về quyền lực, yêu thích tiền bạc, thích sự sung túc, hội lục cát tinh, trung hậu lương thiện trọng tình cảm, có thể đảm nhận các công việc quan trọng về tài chính kinh tế hay làm quản lý.

Nữ mệnh Thiên Phủ, có khí chất của quý phu nhân, Thân thể hơi béo, sau trung niên đa phần mập mạp. Dịu dàng có sự cảm thông, là người ổn trọng, không xử trí theo cảm tính, hành sự lý trí, giỏi xử lý các quan hệ ngoại giao.

8. Thái Âm

Thuộc Thủy, Nam Bắc Đẩu tinh, tượng là mặt trăng trên trời, hóa Phúc, chủ Tiền Bạch, Điền Trạch. Thái Âm chủ Phú, sau mới chủ Quý. Người nam thì ứng với mẹ, vợ, con gái; người nữ thì ứng với mẹ, con gái.

Thái Âm tại Mệnh thay đổi ánh sáng theo thời gian, như Thái Âm ở cung Tý tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Tý, Thái Âm ở giờ Dậu tượng trưng cho mặt trăng ở giờ Dậu, lần lượt suy tiếp.

Thái Âm nhập Mệnh cung, mặt vuông tròn, thân hình trung bình, hơi béo, da trắng sáng. Tính tình dịu dàng, thanh tú cương trực, thông minh tuấn tú, khí chất bên ngoài tốt, đoan chính, khiêm tốn lễ độ, suy nghĩ tinh tế, biết cách cư xử thỏa đáng trong giáo tiếp, tránh được xung đột chính diện, xử lý tốt đẹp các mối quan hệ. Bất luận miếu hãm, đều có sự tu dưỡng về phương diện văn học nghệ thuật, văn hay chữ tốt, học nhiều đa năng. Ưa sạch sẽ, chú ý đến sự thú vị của cuộc sống, là người theo chủ nghĩa duy mỹ. Tính tình thích tĩnh, có hứng thú với triết học, tâm lý học, mỹ học, thần bí học, thích trầm tư, suy nghĩ kĩ càng, giàu trí tưởng tượng, tư duy siêu thực, thậm chí nhiều lúc có xu hướng đa sầu đa cảm. Đa phần tưởng tượng rất lãng mạn về cuộc sống, nhưng có lại không đồng ý thay đổi. Nam nữ đều có duyên sắc sắc với người khác giới, dễ phạm đào hoa.

Nam nữ phong lưu hào phóng, nho nhã, trực tính gấp gáp, dễ thân thiết với nữ giới, cử chí có lúc bị nữ tính hóa, ẻo lả, đồng cung với sát tinh thì không nhất thiết như vậy.

Nữ mệnh mắt ngọc mày ngà, dung mạo đẹp đẽ, mềm mại như thương, khiến nam giới phải đắm say.

9. Tham Lang

Tham Lang thuộc Thủy Mộc, Bắc Đẩu đệ nhất tinh, hóa Đào Hoa Sát, chủ họa phúc.

Nhập miếu là người béo đứng thẳng, xương mày khá cao, lạc hãm thì thấp nhỏ, tiếng cao âm lượng lớn. Người có Tham Lang nhập Mệnh, vô cùng tình cảm hóa, tính cách đều tương đối phức tạp, không ổn định, hiếu động, giỏi xa giao tiệc nhậu, một đời hay kết giao bạn bè, bản tính lạc quan, đam mê dục vọng vật chất, thích ăn uống hưởng lạc, rượu chè cờ bạc trai gái không gì là không thể. Là người không câu nệ tiểu tiết, tình cảm thăng trầm nhiều biến động lớn, có lúc thích khôn vặt, cho người khác những ân huệ nhỏ. Khẩu tài lưu loát, khoe khoang, thích thổi phồng, chủ đề bàn luận phong phú, có khuynh hướng hào nhoáng mà không thực. Tâm lý hên xui rất lớn, tính hích đầu cơ, mạo hiểm, hi vọng có thể một sớm một chiều có kì tích hoạch phát xảy ra, làm việc không đủ kiên nhẫn. Đối với tiền bạc khá rộng rãi, lãng phí, một đời tài vật cũng nhiều hư hao. Trong cuộc sống thích được kích thích, thứ gì mới lạ, hợp ý, không chịu cảnh bình thường, không vừa lòng với hiện trạng, luôn hi vọng có sự đột phá trong công việc, vì vậy mới tồn tại cái tật xấu làm không đến nơi đến chốn. Tham Lang thủ Mệnh thích thuật thần tiên, thích nghiên cứu và tìm hiểu thảo luận về văn hóa thần bí khí công tăng đạo. Tính tính khá gấp, hay tính toán, không chịu tĩnh lặng, ham cờ bạc hoa tửu, háo sắc. Người có Tham Lang nhập Mệnh, bất luận nam hay nữ, trừ một số ngoại lệ cực kì cá biệt, tuyệt đại đa số đều có đào hoa hay có ngoại ngộ.

Nữ mệnh, gợi cảm, sớm trưởng thành, thân thể phổng phao có sức thu hút, tính dục cao, chí cao tính cương, xã giao rộng.

10. Cự Môn

Thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ám, chủ thị phi.

Ánh mắt sắc bén, miệng nổi bật, mặt hình vuông tròn, nhập miếu thân hình to béo, đôn hậu thanh tú, lạc hãm thì ngũ đoạn (tay chân cổ…) gầy nhỏ, giọng cao mà tốc độ nhanh.

Cử chỉ tùy tiện, không chú ý đến lễ nghi. Cự Môn nhập Mệnh, không tách rời được “khẩu”, chủ người ăn nói tốt, hội cát tinh, thường thích hợp làm những công việc nói là chủ yếu, giỏi xử lý các mối quan hệ công cộng, lời lẽ có phần giả dối, giỏi thổi phồng, là nhân tài trong việc ngoại giao.

Cuộc sống vất vả, sau khi vất vả phấn đấu có thể có thành tựu. Không hòa thuận với người khác, nhìn chung một đời thường hay rước thị phi khẩu thiệt, quan hệ giao tế không tốt, dễ làm tổn thương người khác. Có khả năng phân tích và liên tưởng rất xuất sắc, có tài biện luận, không bằng lòng với hiện trạng, tính tình khá ngoan cố, tự tin, tâm lý nghi ngờ lớn, không quá tin tưởng người khác, việc gì cũng phải tra hỏi rõ ràng đến cùng, thích có được những thông tin đích thực rút ra từ thực tiễn.

Không coi trọng những tình tiết trong cuộc sống, cuộc sống vật chất chỉ cần sống được là sống, thích nghiên cứu học vấn kĩ thuật, học nhiều mà tinh thông ít, có những kiến giải đặc biệt với những gì quan sát được, kĩ tính, lòng dạ sắt đá, tự tư tự lợi, khả năng cảm thông kém, suy nghĩ quá nhiều vì vậy làm việc luôn do dự không dứt khoát.

Bụng dạ hẹp hòi, thích làm lớn những vấn đề nhỏ, khi nói chuyện thường vô tình đắc tội với người khác, cũng thích bắm chặt không tha những khuyết điểm sai lầm của người khác, thiếu sự khoan dung, khi lợi ích của bản thân bị xâm phạm thì bất luận chuyện lớn hay bé đều nổi trận lôi đình, hơn nữa cũng dễ gây hiểu lầm cho người khác, một đời thị phi không dứt, tranh chấp trong tối ngoài sáng liên miên, rất nhiều kẻ tiểu nhân, khó mà có thể sống những ngày tháng yên bình.

Nữ mệnh Cự Môn, lòng tự tôn cao, mẫn cảm đa nghi hẹp hòi, bụng dạ nhỏ hẹp, ngang ngạnh, tự cho mình là đúng, làm việc có trách nhiệm, yêu thích tiền bạc, tính cách đa phần không tốt.

11. Thiên Tướng

Thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ ngũ tinh, hóa Ấn, chủ Quan Lộc.

Thiên Tướng nhập Mệnh, chủ tướng mạo đôn hậu, chín chắn, sắc mặt trắng xanh hoặc vàng nhạt, khuôn mặt vuông tròn, Thân hình trung bình, nhập miếu đầy đặn béo tốt, thích ăn nhậu, vật chất đầy đủ. Ăn nói chân thực, không giả dối, thấy người khác khó khăn thì động lòng xót xa, thấy kẻ ác thì bất bình. Lời lẽ cẩn thận, suy nghĩ chu đáo, có lòng chính nghĩa. Quan hệ xã giao tốt đẹp, đối xử với mọi người chân thành, khiêm tốn lễ độ, giúp đỡ mọi người thường xuất phát từ tấm lòng chứ không tính toán chuyện báp đáp. Lòng dạ lương thiện, ôn hòa, khoan dung, làm việc chăm chỉ, có năng lực quản lý và xử lý nghiệp vụ tốt, có thể hi sinh lợi ích bản thân để phục vụ đại cục. An phận thủ thường, một đời nhẫn nhịn chịu khó, một lòng trung thành, thích hợp làm các công việc phò trợ người khác. Sao Thiên Tướng có những đặc tính tốt đẹp như trên, vì vậy được mọi người yêu quý.

Người có Thiên Tướng nhập Mệnh có khuyết điểm là việc gì cũng quá cẩn thận, suy nghĩ quá nhiều, thiếu sự thực tế và sự khai thác, bằng lòng với hiện tại, vì vậy thích hợp làm các công việc thư ký hay phía hậu trường.

Không quá giỏi kinh doanh là một trong số đặc tính của Thiên Tướng. Nếu kinh doanh tất là thương gia lương thiện. Người Thiên Tướng thật thà, không giỏi dùng mưu dùng kế, có lúc quá tin tưởng người khác, cơ hội đến nhưng không nắm bắt ngay nên thường lọt vào tay người khác.

Nữ mệnh Thiên Tướng, dịu dàng hướng nội, nội tâm tốt đẹp, dung mạo đoan trang ổn trọng, da dẻ nhẵn nhụi, lễ phép nhã nhặn, không tính toán với người khác, không quá coi trọng sự nghiệp, không thích khoe khoang và bàn chuyện không đâu, thích ở lì trong nhà. Thích hợp cùng chồng dạy con, là vợ hiền mẹ tốt, vật chất như ý.

12. Thiên Lương

Thuộc Thổ, Nam Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ấm, sao chủ Thọ.

Thiên Lương tọa Mệnh, chủ người có vẻ ngoài ổn trọng khiêm nhường, từng trải, từ bi, gương mặt dài vuông, xương gò má cao, lưng hơi gù, hơi béo. Thanh tú, thông minh chính trực, là người chính trực không tư lợi. Hay lo chuyện thiên hạ, lấy việc giúp đỡ người làm vui, hay giúp đỡ những người kinh tế khó khăn. Quang minh lỗi lạc, gặp chuyện thì quyết đoán, xử lý việc luôn đứng trên lập trường công bằng, không thiên vị, thận trọng, có phong thái của người lớn tuổi, thường nhận được sự kính trọng của mọi người, thích khoe khoang, thường giúp người khác giải quyết tranh chấp, nhưng cũng gặp hiểu lầm, làm ơn mắc oán. Người có sao Thiên Lương nhập Mệnh thì tâm tính nhân nghĩa từ bi, có sự nghiên cứu và hứng thú với y học thuốc thang, đặc biệt có duyên bẩm sinh với trung y, đông dược, thuật số tôn giáo. Tính tình thanh cao, coi thường chuyện tiền bạc, đối với chuyện tiền bạc không quá tính toán chuyện được mất. Có tài cán, lòng dạ rộng rãi, có điều tính háo thắng, có dục vọng về quyền lực và dục vọng lãnh đạo, đa phần thường có vài phần ngạo mạn, vẻ mặt người ở trên cao, phẩm hạnh của người già. Tư tưởng chính thống, kiên trì với nguyên tắc, không chịu dễ dàng chấp nhận sai sót khuyết điểm của bản thân.

Nữ mệnh Thiên Lương, dung mạo đoan trang, mắt dài mũi thẳng, ôn hòa chính trực, sống trọng tình nghĩa, trong nhu có cương, nhiệt tình, thích giúp đỡ người khác. Nhập miếu hội cát tinh, nhiều tài nghệ, phú quý song toàn. Hội Xương Khúc, có tài hoa văn nghệ. Hội Tả Hữu, chính trực khoan dung trung hậu, giúp người làm vui, cùng chồng dạy dỗ con cái. Hội Dương Đà Hỏa Linh, cô khắc, rước thị phi, không thuần khiết.

13. Thất Sát

Thuộc Hỏa, Kim, Nam Đẩu đệ lục tinh, là Tướng tinh, hóa Đế vi Quyền

Người có Thất Sát nhập Mệnh, mắt to, xương mày nổi bật, mắt có vẻ uy nghiêm, khuôn mặt vuông dài hoặc gầy dài, có nếp nhăn, trên mặt có nhiều vết đốm hoặc rỗ. Thân thể có thương tích, nhập miếu béo, lạc hãm thì gầy nhỏ, vẻ ngoài tháo vát pha lẫn sức khỏe. Hành vi phóng khoáng ngang tàng, không câu nệ tiểu tiết, tốc độ đi nhanh. Cá tính vô cùng hiếu thắng, quật cường cứng rắn, có sự tự chủ độc lập, có khí khái bất khuất, tính tình dữ dội, dễ nổi cáu, hỉ nộ ái ố thể hiện trên khuôn mặt. Không thích bị người khác can thiệp ràng buộc, sự độc lập lớn, dũng cảm, có dũng khí và sự thực hành, đối mặt với khó khăn sẽ dũng cảm tiến về phía trước, tuyệt đối không sợ hãi. Là người thích đầu cơ mạo hiểm, không sợ không làm được, chỉ sợ không nghĩ ra, trong cuộc sống là kiểu người khai sáng tiến công. Có mưu lược, có năng lực lãnh đạo thống lĩnh tốt, chỉ có điều tính tình quá gấp gáp, thường bực tức, dễ coi cấp trên là vô dụng, nên có tâm lý phạm thượng, đối với cấp dưới, bạn bè thì tương đối khoan dung. Thành bại một đời thường đến rất đột ngột, bất luận nam hay nữ, đều phải trải qua khó khăn mới có thành tựu.

Nữ mệnh Thất Sát, tính tình hướng ngoại, hoạt bát hào phóng, có khí chất, tính cương, làm việc già dặn, có tinh thần trượng nghĩa, thích giúp người, thuộc loại hình của công việc, không có hứng thú gì với chuyện làm vợ hiền mẹ tốt, sau khi kết hôn tất đoạt quyền chồng, chồng phải nghe lời vợ.

14. Phá Quân

Thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ thất tinh, hóa Hao, chủ phu thê, tử tức, nô bộc.

Phá Quân nhập Mệnh, lưng dày, mày khoan, eo nghiêng, tiếng nói sắc bén, động tác nhanh, không coi trọng lễ nghĩa, thích ăn vặt, thái độ thiếu ổn trọng. Nhập miếu thân hình ngũ đoản, hơi béo, hãm địa cao gầy, phá tướng hay mặt có lốm đốm.

Cá tính đặc biệt, kiêu ngạo, không khuất phục hay chịu sự quản thúc của ai, hỉ nộ vô thường, thích ham muốn hưởng thụ vật chất, thích săn bắt thú, tính tình cương cường, thích tranh đấu, quan hệ xã giao không tốt, đặc biệt thích góp vui.

Phá Quân chủ người hành động độc đoán, tự cho mình đúng. Cư miếu vượng, bản tính nghiêm khắc có tài thao túng, là người cương cường có chủ kiến. Nhập hãm địa thì tính tình dữ dội dễ dẫn đến cực đoan. Yêu ghét phân minh, là người thiên tính cố chấp, ý thức chủ quan mạnh, là điển hình cho chủ nghĩa cá nhân, đa phần thuộc kiểu người tự tư tự lợi, lòng dạ hẹp hòi, gian trá xảo quyệt. Sự hiếu kì lớn, làm việc gì cũng dựa vào hứng thú nhất thời, khó có sự bền chí đến cùng, thiếu kiên nhẫn, thường bỏ dở giữa chừng. Lời nói và việc làm tùy hứng bất chấp mọi thứ, cử chỉ khoa trương, cuồng ngạo đa nghi, tính khí cứng rắn, tự ý tổn thương người khác, có tính phá hoại, thích dùng vũ lực giải quyết vấn đề, coi cái xấu là tốt, việc giúp người là xấu, lấy ân báo oán, đối nhân xử thế thường mang ý thù địch, với người thân thì vô nhân nghĩa, khó có thể hòa nhập chung sống, thậm chí lục thân như nước với lửa, thường trở mặt với bạn bè, một đời dễ kết oán với người khác. Không chịu cảnh nhàn rỗi, có tinh thần khai sáng và tâm lý hên xui mạnh mẽ, thích đầu cơ mạo hiểm, mơ ước chỉ qua một đêm trở nên giàu có. Nữ mệnh Phá Quân, một đời vất vả, tuy lầm lì nhưng hiếu động, lòng tự tôn lớn, khó có thể vui vẻ dài lâu, thích ăn vặt, có khuynh hướng thần kinh, dễ làm ngược lại, tính tình chanh chua.

Kết thúc phần “Tính chất cơ bản 14 chính tinh” !

Để hiểu sâu thêm về 14 chính tinh, tại các thế đứng khác nhau, khi đi cùng với các phụ tinh thì bị ảnh hưởng thế nào, mời quý vị tham khảo tại phần Kiến thức nâng cao tại diễn đàn.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 26, 2012 in Nghiên cứu Tử Vi

 

LSDN – Cung Tài Bạch

Tác giả: AnKhoa
Nguồn: lysodoanhnhan.com

Cung Tài Bạch

(1) 财帛宫遇吉星庙旺守值, 如紫微, 天府, 天相, 廉贞, 太阳, 太阴, 贪狼, 禄存, 化禄, 左辅, 右弼等, 主财多; 遇擎羊, 陀罗或廉贞七杀在闲陷之地, 主财运平常, 时有时无; 遇天机主财进财出, 来而难守; 遇火铃空劫等凶星又逢陷地, 主贫.

(1) Cung tài bạch gặp cát tinh miếu vượng địa thủ chiếu, như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Liêm Trinh, Thái Dương, Thái Âm, Tham Lang, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tả Phụ Hữu Bật… thì chủ nhiều tiền bạc; gặp Kình Dương, Đà La hoặc Liêm Trinh Thất Sát ở đất bình hòa hay hãm địa thì chủ đường tiền bạc bình thường, lúc có lúc không; gặp Thiên Cơ chủ tiền vào tiền ra, có tiền nhưng không giữ được; gặp các hung tinh Hỏa Linh Không Kiếp lại hãm địa thì nghèo khó.

(2) 各星若遇羊陀火铃空劫耗忌死绝等恶宿, 富足者不旺盛, 不旺者皆主辛劳中求财.

(2) Các sao nếu như gặp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ thì người dù giàu hay không đều phải kiếm tiền nhờ lao động vất vả.

(3) 经云: “紫府武阴, 双禄主财”. 详考其它, 如擎羊, 文昌, 左辅, 七杀, 天刑, 陀罗, 子午破军, 红鸾天喜等星曜, 可皆视为财星. 然擎羊之财, 终非真正, 或十年, 或一年, 或一月, 或一日, 或一时, 其它如陀罗, 七杀之财, 均与擎羊一致, 仅主短暂而财来财去, 散聚无常, 或横发一瞬即告耗尽, 或主非吾所享. 左辅, 文昌之财, 则较久远而延绵. 破军之财, 过则必败, 鸾喜之财, 来则不存, 有如季花之盛开. 凡财宫之财星曜, 以单守为美, 复得中天吉星为辅及三方众吉拱冲照合最为美妙. 若遭凶宿守值照, 财者得亦难聚, 反生是非, 重则招灾致祸. 巨门, 太阳, 天梁之财, 多由口舌竞争而得. 此外若有二正星并守财宫亦然. 孤寡刑克之星入财宫, 必主财来财去, 余资何有. 魁钺文曲之财为间接, 机佳则美, 限蹇则偃. 火铃之财, 到手成空. 惟铃星守财宫为偏财, 每有意外之得. 咸池之星亦主财, 诀曰 见财而后桃花”, 得之亦多于歌台舞榭, 花丛酒色. 人生世间, 发财养命, 惟来去得失各异也.

(3) Sách viết: “Tử Phủ Vũ Âm, Song Lộc chủ tài”. Mặt khác, các sao như Kình Dương, Văn Xương, Tả Phụ. Thất Sát, Thiên Hình, Đà la, Tí Ngọ Phá Quân, Hồng Loan Thiên Hỉ đều có thể coi là tài tinh, nhưng cái tiền tài của Kình Dương luôn không phải là chân chính hoặc 10 năm, hoặc 1 năm, hoặc 1 tháng, hoặc 1 ngày, hoặc 1 giờ. Các sao khác như Đà La, Thất Sát cũng giống như Kình Dương, chỉ chủ tiền bạc đến trong 1 giai đoạn ngắn rồi lại rồi mất, tán tụ bất thường, hoặc hoạch phát rồi hao tốn sạch, hoặc có mà không được hưởng. Cái tiền tài của Tả Phụ, Văn Xương thì kéo dài khá lâu. Tiền tài mà Phá Quân đem lại sau khi vượt qua tất bị hao bại. Tiền tài của Hồng Hỉ đến nhưng không giữ được, như một mùa hoa nở vậy. Phàm các sao của cung Tài Bạch, đơn thủ là tốt nhất, sau đó xét đến các sao phụ và cát tinh tam hợp xung chiếu là hoàn mỹ nhất. Nếu như hung tinh thủ chiếu, tiền tài khó tụ, nếu không ắt sẽ sinh thị phi, nặng có thể dẫn đến tai họa. Tiền tài do Cự Môn, Thái Dương, Thiên Lương mang lại, thường do tranh đấu miệng lưỡi mang lại. Ngoài ra nếu như có 2 chính tinh thủ chiếu cung Tài Bạch cũng vậy. Cô Quả Hình Khắc nhập cung Tài Bạch, tất chủ tiền đến tiền đi, không còn lại gì.Tiền tài mà Khôi Việt Văn Xương mang lại là gián tiếp, gặp cơ hội tốt thì đẹp, gặp hạn khó khăn thì sẽ đi xuống (hoặc đứng yên). Tiền tài Hỏa Linh mang lại, đến tay thì hóa ra hư không. Nếu chỉ có Linh tinh thì thiên về tiền tài, được tiền ngoài dự kiến. Sao Đào hoa cũng chỉ tiền tài nhưng chỉ tiền nhờ vào ca múa hát nhảy sân khấu hay sắc đẹp mà có.

(4) 经云: 诸凶照财帛, 聚散无常; 禄存守于财宅, 堆金积玉; 武曲贪狼财宅, 横发资财; 权禄守财福之位, 出世荣华; 劫空临财福之乡, 生来贫贱; 日月夹财, 加吉曜, 不权则富; 左右财宫, 兼夹拱, 衣禄丰隆; 紫微辅弼, 多为财赋之官; 武曲, 太阴, 多居财赋之任; 紫府武曲居财帛, 更兼权禄富奢翁.

(4) Sách viết: Các hung tinh chiếu cung tài bạch, tán tụ bất thường, Lộc Tồn thủ cung Tài thì chủ tích lũy được tiền bạc; Vũ Khúc Tham Lang ở cung Tài bạch chủ hoạch phát; Quyền Lộc thủ Tài bạch cung, Phúc cung thì ra ngoài được vinh hoa; Không Kiếp vào Tài Phúc cung thì sinh ra nghèo khó; Nhật Nguyệt vào Tài cung, gia cát tinh, không có quyền lực cũng có tiền bạc; Tử Vi Phụ Bật làm công việc về tài chính; Vũ Khúc, Thái Âm hay đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tiền; Tử Phủ Vũ Khúc cư Tài Bạch, thêm Quyền Lộc càng giàu có.

(5) 有财帛宫凶而其人却富者, 当是命宫, 迁移, 官禄宫坐吉化吉, 经云: 诸星吉多, 逢凶也吉. 故审人之贫富, 不可就财帛一宫执一而断, 妄下结论, 另外, 仍须看其人大限步入何乡, 方可判断无误. 反之亦然.

(5) Người có cung Tài bạch xấu nhưng vẫn giàu có, đương nhiên là nhờ cung Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc cát hóa, sách viết: Nhiều cát tinh, gặp hung cũng hóa cát. Đánh giá sự giàu nghèo của 1 người không thể chỉ dựa vào duy nhất cung Tài Bạch mà luận được, ngoài ra còn phải xem đại hạn của người đó nhập cung thế nào rồi mới phán đoán tốt xấu.

(6) 凡七杀, 破军, 贪狼, 天机, 巨门, 天梁在财帛宫有煞星守照, 其人必是好赌之辈, 煞重又加空劫大耗, 可能血本无归.

(6) Phàm Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Lương vào cung Tài bạch có hung tinh tọa thủ thì người đó tất hay cờ bạc cá cược, sát tinh nhiều lại gia Không Kiếp Đại Hao thì có thể tay trắng.

(7) 流年斗君在原命盘财帛宫过度, 遇众吉守照, 主一年旺发; 逢四煞空劫耗忌, 主破财, 或因财而起官非争讼.

(7) Lưu niên đẩu quân qua cung Tài bạch, gặp cát tinh thủ chiếu, chủ 1 năm phát tài thịnh vượng, nếu gặp Tứ Sát không kiếp Hao Kỵ chủ phá sản hoặc thất thoát tài sản hoặc vì tiền mà sinh thị phi kiện cáo.

★ 紫微
Tử Vi

一生财运丰厚, 相对而言较为稳定. 得左右昌曲吉曜, 财运亨通, 财源不断, 多为财赋之官, 在税务, 工商, 银行等部门工作. 紫微化权, 主大富, 或为财赋之官. 紫微化科, 主富贵财名. 与禄存, 化禄同宫会照, 主大富, 见禄马交驰, 经商巨富, 书谓: “紫微居财帛, 更兼化禄, 富奢翁”. 辅弼同宫, 财路广, 八方得利. 昌曲同宫, 富, 先名后利.

Một đời tiền bạc đầy đủ, tương đối ổn định. Được thêm các cát tinh Tả Hữu Xương Khúc thì tài vận hanh thông, tiền bạc không bị đứt đoạn, thường là quan về tài chính, công tác ở các cơ quan ban ngành như ngân hàng, công thương, thuế vụ… Tử Vi Hóa Quyền chủ đại phú, hoặc là quan về tài chính. Tử Vi Hóa Khoa, chủ phú quý được cả danh tiếng lẫn tiền bạc. Hội chiếu đồng cung với Hóa Lộc, Lộc Tồn, chủ đại phú, gặp Lộc Mã giao trì, kinh doanh thương mại cự phú, sách có viết: “Tử Vi cư Tài bạch, canh kiêm Hóa Lộc, Phú xa ông” Phụ bật đồng cung, đường tiền bạc rộng rãi thông thoáng, thuận lợi. Xương Khúc đồng cung là phú, trước được danh sau được lợi.

与羊陀火铃同宫, 财运有起伏, 先易后难, 能横发资财, 但发而不守, 必有破败. 与大耗空劫四煞同宫, 虚有其表, 支出较大, 财运不稳.

Đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh, tài vận có trở ngại, trước dễ sau khó, có thể hoạnh phát, nhưng phát mà không thể giữ được, tất sẽ phá sản. Đồng cung với tứ Sát Không Kiếp Đại Hao, đường tài vận không ổn định, bề ngoài thì hư ảo, hay phải chi tiêu lớn.

紫微天府在寅申, 主富足, 终身财旺.

Tử Vi Thiên Phủ tại Dần Thân, chủ sung túc giàu có, cả đời tiền bạc đầy đủ hưng vượng.

紫微贪狼在卯酉, 先难后易, 中晚年丰隆. 见贪狼化禄会火铃, 主暴发.

Tử Vi Tham lang tại Mão Dậu, trước khó sau dễ, trung niên trở ra thì đầy đủ. Hội Tham Lang Hóa Lộc hội Hỏa Linh, chủ bạo phát.

紫微天相在辰戌, 富裕, 财气旺盛, 羊陀火铃同宫, 吉中有凶, 必有破败.

Tử Vi Thiên Phủ tại Thìn Tuất, giàu có, tiền bạc thịnh vượng, đồng cung Dương Đà Hỏa Linh, trong cát có hung, tất có lần thất bại phá sản.

紫微七杀在巳亥, 先难后易, 遇吉星同宫或加会, 能横发.

Tử Vi Thất Sát tại Tị Hợi, trước khó sau dễ, gặp cát tinh đồng cung hoặc hội chiếu có thể hoạnh phát.

紫微破军在丑未, 财旺, 但不顺, 必有波折. 易得意外之财, 见诸吉暴发, 凶星加会, 发而不久, 成败不一.

Tử Vi Phá Quân tại Sửu Mùi, tiền tài vượng nhưng không thuận, tất có sự trắc trở. Dễ có tiền ngoài dự kiến, gặp cát tinh thì bạo phát, hung tinh hội chiếu thì phát tài nhưng không được lâu, thành bại bất nhất.

★ 天机
Thiên Cơ

劳心费力而生财, 少有意外财运, 并主一生财来财去. 庙旺白手成家, 财源丰足, 逢吉曜拱照旺盛. 与禄存, 化禄, 天马会合, 主富裕. 昌曲同宫, 先名后利, 财运佳. 左右同宫, 多遇贵人而生财. 凡天机入财帛, 其钱财流运性较大, 若原命宫三方格局佳者, 容易在银行或金融部 工作. 若从事商业, 易为批发商, 中间商.

Nhờ lao tâm phí lực mà có tiền tài, ít khi có tiền ngoài dự kiến, chủ 1 đời tiền có rồi hết. Miếu vượng thì tay trắng tạo lập nhà cửa, tiền tài đầy đủ, nếu gặp cát tinh cộng chiếu miếu vương, hội chiếu với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên mã thì giàu có. Đồng cung với Xương Khúc, trước có danh sau có lợi, đường tiền bạc tốt đẹp. Đồng cung với Tả Hữu, nhờ quý nhân mà phát tài. Thiên Cơ nhập cung Tài, tính lưu động của tiền bạc tương đối lớn, nếu như tam phương cung mệnh cách cục tốt thì dễ là người làm bên Ngân hàng hay tài chính. Nếu như làm thương nghiệp, dễ buôn bán, là người trung gian.

天机落陷宫, 财少, 为求财而费力伤神, 财运不稳定, 支出频频.

Thiên Cơ lạc hãm cung, tiền ít, vì tiền mà hao tâm tốn sức, tài vận không ổn định, hay phải chiêu tiêu nhiều.

见四煞劫空, 主成败起伏, 生性浪费, 难蓄大财. 财运较差, 难以大发, 破而后成, 适合以巧艺生财, 专职技术维生. 天机太阴在寅申, 白手起起家, 先难后易, 会同时从事两种以上职业. 见禄存或化禄主富.

Gặp Tứ Sát Không Kiếp, chủ thành bại thăng trầm, bẩm sinh lãng phí, khó có thể tích lũy được nhiều tiền. Tài vận tương đối kém, khó đại phát, trước phá sau thành, thích hợp kiếm tiền nhờ các ngành kỹ nghệ, kĩ thuật chuyên môn. Thiên Cơ Thái Âm ở Dần Thân, tay trắng lập nghiệp, trước khó sau dễ, có thể cùng lúc làm 2 công việc trở lên. Gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì chủ phú.

天机巨门在卯酉, 闹中求财, 财运上总是多逢竞争对手, 成败多端, 财之来路多变化不定.

Thiên Cơ Cự Môn tại Mão Dậu, kiếm được tiền trong lúc loạn, hay phải đấu tranh với đối thủ trên con đường tiền bạc, thành bại đa đoan, tài vận hay thay đổi không ổn định

天机天梁在辰戌, 智谋巧计或学问技艺生财, 宜从事文化事业. 不见吉化并吉星主清贫, 逢四煞劫空, 愈加贫穷.

Thiên Cơ Thiên Lương tại Thìn Tuất, nhờ cơ mưu tính toán hoặc kĩ nghệ học vấn mà kiếm ra tiền, thích hợp làm các nghề về văn hóa. Nếu không gặp cát tinh cát hóa thì chủ thanh bần, gặp tứ Sát Không Kiếp thì càng nghèo khó.

★ 太阳
Thái Dương

太阳庙旺, 财帛丰盛, 逢遇禄存或化禄, 虽操心惟可大富. 见诸吉相助, 主富贵绵远. 与文昌文曲同宫, 财运亨通, 富贵有声名. 与左右魁钺同宫, 财旺. 加诸恶则不美. 陷地劳碌积蓄, 财来财去.

Thái Dương miếu vượng, tài bạch phong thịnh, nếu gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, tuy thao tâm nhưng có thể đại phú. Gặp nhiều cát tinh tương trợ thì chủ phú quý lâu dài. Đồng cung với Văn Xương Văn Khúc thì tài vận hanh thông, phú quý có danh tiếng. Đồng cung với Tả Hữu Khôi Việt, tài vượng. Hội nhiều hung tinh thì không tốt. Hãm địa thì vất vả tích góp, có rồi lại hết.

太阳庙旺见煞或化忌, 虽富但支出颇巨, 财多耗散, 陷地加煞, 化忌, 主困穷. 太阳入财帛宫, 不论贫富, 皆主其人财上多耗散, 开销大, 会因绷面子, 图虚荣而花费多, 会旬空, 截空, 更验.

Thái Dương miếu vượng gặp Sát tinh hoặc Hóa Kỵ, tuy giàu nhưng hay phải xuất chi lượng tiền lớn, tiền bạc hay bị hao tán, hãm địa hội sát tinh, Hóa Kỵ chủ nghèo khó. Thái Dương nhập Tài Bạch cung, dù giàu hay nghèo đều chủ người đó hay bị tán tài, chi tiêu nhiều, hay vì thể diện, hư vinh mà tiêu pha nhiều, hội Tuần Không hay Triệt không thì càng nguy hiểm.

唯太阳在亥, 只要不与煞星同宫或加会, 亦主富, 见权禄左右, 可为巨富.

Thái Dương độc thủ ở Hợi, chỉ cần không gặp sát tinh đồng cung hoặc hội chiếu thì giàu có, gặp Quyền Lộc Tả Hữu, có thể là cự phú.

太阳太阴在丑未, 可经营多项事业, 太阴化权主富, 左右昌曲同亦富, 发财不小. 逢化忌财来财去, 加四煞劫空忌星, 聚散无常. 不见吉亦不见凶, 财运平常.

Thái Dương Thái Âm tại Sửu Mùi, có thể kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, Thái Âm Hóa Quyền chủ Phú, Tả Hữu Xương Khúc đồng cung cũng giàu, phát tài. Nếu gặp Hóa Kỵ thì có rồi hết, hội Tứ Sát Không Kiếp Kỵ thì tán tụ vô thường. Không gặp cát tinh cũng không gặp hung tinh thì tiền bạc bình thường.

太阳巨门在寅申, 多主早年成败不一, 中晚年财帛充盈, 财利多来自外地, 经营求财上多逢竞争, 逢化禄或禄存天马主大富, 寅比申吉.

Thái Dương Cự Môn tại Dần Thân, chủ tuổi trẻ thành bại bất nhất, trung niên trở ra tiền bạc sung mãn, tiền bạc hay đến từ bên ngoài, nếu kinh doanh thì hay gặp tranh chấp, gặp Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn Thiên Mã chủ đại phú, ở Dần tốt hơn ở Thân.

太阳天梁在卯酉, 操心生财, 富裕, 见禄存化禄主大富, 左右昌曲同宫亦吉, 有争财之事.

Thái Dương Thiên Lương tại Mão Dậu, phải thao tâm mới có tiền, giàu có, gặp Lộc Tồn Hóa Lộc thì chủ đại phú, Tả Hữu Xương Khúc đồng cung thì cũng tốt, có chuyện tranh chấp về tiền bạc.

★ 武曲
Vũ Khúc

武曲为财星, 庙旺入财帛宫, 一生财运丰足, 与禄存, 化禄, 化权, 化科, 天马同宫加会可为巨富. 武曲化禄, 大富, 又逢禄存, 巨富. 武曲化权, 大富, 更加吉星, 有巨万家资. 武曲化科主富, 加吉亦为大富.

Vũ Khúc là tài tinh, miếu vượng nhập Cung Tài bạch, cả đời tài vận phong túc, đồng cung hội chiếu với Hóa Lộc, Lộc Tồn, Hóa Quyền, Thiên Mã có thể thành cự phú. Vũ Khúc Hóa Lộc, đại phú, nếu lại gặp Lộc Tồn thì càng giàu, bậc cự phú. Vũ Khúc Hóa Quyền, đại phú, thêm cát tinh thì có nhiều tiền bạc, cỡ tỉ phú. Vũ Khúc Hóa Khoa chủ phú, hội cát tinh cũng có thể thành đại phú.

武曲守于财帛, 最怕空亡. 与四煞劫空同宫, 钱财必有大破败, 纵发一时之财, 亦必因财致祸, 多有财务纠纷, 其财不能久留, 与火铃同宫, 因财被劫. 陷地加恶煞, 荡尽家财, 负债度日. 武曲陷地, 无吉化, 不加吉, 财运不畅, 时好时坏, 东进西出.

Vũ Khúc độc thủ cung Tài bạch, sợ nhất Không Vong. Đồng cung với Tứ Sát Không Kiếp, tiền tài ắt có lần phá sản lớn, nếu nhanh chóng kiếm được tiền thì ắt vì tiền mà sinh họa, hay vì tiền mà phân tranh, mà tiền đó cũng không thể lưu giữ lâu được, đồng cung với Hỏa Linh, bị cướp tiền. Nếu hãm địa hội nhiều sát tinh thì khánh kiệt, tiền bạc đủ sống qua ngày. Vũ Khúc hãm địa không có cát tinh cát hóa thì tài vận lúc tốt lúc xấu, phải vất vả ngược xuôi.

武曲守于财帛, 大多任职于金融部, 或从事财务工作, 或是商人.

Vũ Khúc độc thủ cung Tài bạch, hay làm ở các cơ quan tài chính,hoặc làm về tài vụ, hoặc là thương nhân.

武曲在辰戌, 见科权禄或昌曲左右大富; 无吉曜相加闹中生财, 财多竞争而得, 亦可白手成家; 加煞财来财去; 与铃星文昌陀罗交会于辰戌, 主倾家荡产, 因财丧命.

Vũ Khúc tại Thìn Tuất, gặp Khoa Quyền Lộc hoặc Xương Khúc Tả Hữu thì đại phú; nếu không có cát tinh tương trợ thì kiếm tiền trong lúc loạn, hay phải tranh chấp mới kiếm đượ tiền, cũng có thể tay trắng mà lập nghiệp; hội sát tinh thì có tiền rồi hết; hội chiếu với Hỏa Linh Văn Xương Đà La ở Thìn Tuất thì chủ khuynh gia bại sản, vì tiền mà mất mạng.

武曲天府在子午, 纵不加吉, 亦主富裕. 与禄存或化禄同宫主巨富. 加左右昌曲或化科化权, 亦主大富. 加煞有起伏.

Vũ Khúc Thiên Phủ tại Tý Ngọ, nếu không có cát tinh cũng chủ giàu có. Đồng cung với Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì chủ cự phú. Hội Tả Hữu Xương Khúc hoặc Hóa Khoa Hóa Quyền, cũng chủ đại phú. Hội sát tinh thì có trở ngại khó khăn.

武曲贪狼在丑未, 见火铃同宫主横发, 再见羊陀化忌, 主横发横破. 主见权禄左右亦发财. 得财先难后易, 大多三十岁前财运平常或困穷, 三十岁后有暴发机会.

Vũ Khúc Tham Lang tại Sửu Mùi, đồng cung với Hỏa Linh chủ hoạnh phát, lại gặp Dương Đà Hóa Kỵ thì chủ hoạnh phát hoạnh phá. gặp Quyền Lộc Tả Hữu cũng phát tài. Có tiền trước khó sau dễ, trước 30 tuổi tài vận thường bình thường hoặc nghèo khó, sau 30 tuổi có cơ hội hoạnh phát.

武曲天相在寅申, 主富, 财运丰厚, 见科权禄马大富. 若加煞, 则技艺百工生财.

Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần Thân, chủ phú, tài vận phong mãn, gặp Khoa Quyền Lộc Mã thì đại phú. Nếu hội sát tinh thì nhờ kĩ nghệ mà phát tài.

武曲七杀在卯酉, 其人浪费金钱, 但可白手起家, 禄存或化禄同宫, 可横发大富. 不加吉财来财去. 加煞化忌, 挥霍无度, 因财持刀, 必因争财而致灾祸刑讼, 纵然暴发亦必暴败.

Vũ Khúc Thất Sát tại Mão Dậu, là người hoang phí, nhưng có thể tay trăng lập nghiệp. Đồng cung với Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, có thể hoạnh phát đại phú. Không có cát tinh thì có tiền rồi lại hết. hội sát tinh Hóa Kỵ, tiêu pha vô độ, vì tiền mà dẫn tới tai họa hình tù, bạo phát ắt cũng bạo phá.

武曲破军在巳亥, 其人浪费金钱, 支出频频. 陀罗, 化忌, 劫空, 火, 铃同值, 钱财东收西散, 到手成空. 逢吉曜先无后有, 亦可发财, 但仍主财运起伏.

Vũ Khúc Phá Quân tại Tị Hợi, là người hoang phí tiền bạc, hay phải xuất tiền nhiều. Đà La, Hóa Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh đồng cung hay hội chiếu thì có kiếm được nhưng lại tiêu hết vào việc khác, đến được tay thì chẳng còn gì. Nếu gặp cát tinh thì trước không sau có, cũng có thể phát tài, nhưng vẫn chủ tiền bạc lên xuống thay đổi thất thường.

★ 天同
Thiên Đồng

大多为白手成家, 财帛晚聚, 有金银宝贝或 董蓄积. 天同主福, 淡泊金钱, 能安于清贫, 在求财怠于劳力, 并不积极, 但仍有不劳而获的运气出现, 或有长期稳定的收入. 命宫有吉星, 其财得来轻松, 并不费力. 天同见禄存或化禄天马, 众吉加会, 始主经商大富, 否则平常. 与昌曲同度, 财路清高平稳. 与左右, 魁钺同度, 财上多助力. 庙旺加煞, 财运好坏不定, 发而又败. 居陷地一生多破耗贫穷, 加四煞刑忌, 财运困乏, 时有时无, 为百工技艺, 三教 流方生财成家, 只是不能致富.

Đại đa số thường là tay trắng lập nghiệp, tiền bạc về sau mới tụ, có tiền bạc châu báu hoặc có tích trữ. Thiên Đồng chủ phú, ít tiền thì có thể sống cuộc sống thanh bần, khi cầu tiền bạc thì ít phải lao động tốn công sức, cũng không tích cực, nhưng vẫn có số không làm mà được hưởng, thu hoạch, hoặc có thu nhập ổn định. Mệnh cung có cát tinh, thì tiền bạc thoải mái, không tốn nhiều công sức. Thiên Đồng gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc Thiên mã, nhiều cát tinh gia hội, chủ kinh doanh đại phú, nếu không bình thường. Đồng độ Xương Khúc, con đường tiền bạc thanh cao bình ổn. Đồng độ với Tả Hữu, Xương Khúc, có sự giúp đỡ về tiền bạc. Miếu vượng gia sát tinh, tài vận tốt xấu bất định, phát rồi lại bại. Cư đất hãm địa thì 1 đời hay thất bại tổn hao nghèo khó, gia Tứ Sát Hình Kỵ thì tài vận thiếu thốn, lúc có lúc không, làm về kĩ nghệ, tha phương lập nghiệp kiếm tiền, chỉ có điều không thể coi là giàu được.

天同太阴在子午, 时有意外之财, 庙旺或见禄存吉化财旺, 尤多不动产. 陷地加煞化忌, 财运欠稳, 成败进退.

Thiên Đồng Thái Âm ở Tý Ngọ, có lúc có tiền ngoài dự kiến, miếu vượng hoặc gặp Lộc Tồn cát hóa thì tài vượng, có nhiều bất động sản. Hãm địa gia sát tinh Hóa Kỵ, tài vận thiếu sự ổn định, thành bại tiến thoái bất nhất.

天同巨门在丑未, 多为经商之辈. 财来财去, 钱财难聚, 时好时坏, 主辛苦劳碌白手兴家, 并不顺畅, 中年后始感如意, 惟见权禄并吉星始富.

Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu Mùi, thường là người kinh doanh thương mại. Tiền có rồi hết, tiền tài khó tụ, lúc tốt lúc xấu, chủ gian khổ vất vả tay trắng làm hưng thịnh gia nghiệp, nhưng không thuận lợi, sau trung niên bắt đầu cảm thấy vừa ý, nếu gặp Quyền Lộc hay cát tinh thì bắt đầu giàu.

天同天梁在寅申, 先贫后富, 多数白手起家, 以学问, 技术招财, 一般财运稳定. 加吉化并吉星主富, 异乡发财.

Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần Thân, tiền bần hậu phú, thường tay trắng lập nghiệp, kiếm tiền dựa vào học vấn, kĩ thuật. Tài vận tương đối ổn định. Gia cát tinh cát hóa thì chủ phú, phát tài nơi đất khách.

★ 廉贞
Liêm Trinh

入庙旺之地, 财帛丰盈, 闹中生财, 求财多在竞争是非中得, 廉贞化禄, 财运亨通, 大富, 再逢禄存天马为巨商之命. 昌曲同宫, 富. 魁钺同宫, 求财多遇贵人. 陷宫多败少成, 聚散无常, 加耗劫刑忌, 每于官非中破财, 廉贞化忌, 必大破无疑.

Vào đất miếu vượng, thì tiền bạc sung túc, kiếm được tiền trong lúc loạn, thường trong lúc tranh chấp thị phi mà phát tài. Liêm Trinh Hóa Lộc, tài vận hanh thông, đại phú. Nếu lại gặp Lộc Tồn Thiên Mã thì có số làm cự thương. Đồng cung với Xương Khúc thì phú. Đồng cung với Khôi Việt thì hay gặp quý nhân. Hãm địa thì bại nhiều thành ít, tụ tán vô thường, gia Hao Kiếp Hình Kỵ thì hay vì kiện tụng mà phá tài, Liêm trinh Hóa Kỵ tất đại phá.

凡廉贞入财帛, 颇多耗费, 易惹词讼破财, 或被人侵吞偷盗, 尤与辅弼同宫, 易遭偷盗之事. 见火铃羊陀空劫, 财物虚掷浪费.

Liêm Trinh nhập cung Tài Bạch, hay hao phí, vì kiện cáo mà hao tài, hoặc bị ăn cắp cướp giật tài sản, đặc biệt khi đồng cung với Phụ Bật thì dễ có chuyện mất trộm đồ. Gặp Hỏa Linh Kình Dương Không Kiếp, tài vật hư hao lãng phí.

廉贞天府在辰戌, 财旺, 无吉亦小康, 会禄存, 化禄大富, 加左右昌曲亦富. 加四煞劫空财路不畅, 终有破败. 廉贞贪狼在巳亥, 横成横破, 尤喜见火铃同宫横发暴富, 禄存化禄同宫亦富奢. 无吉星加会, 辛苦劳碌中求财, 主贫穷度日.

Liêm Trinh Thiên Phủ tại Thìn Tuất, tài vượng, nếu không có cát tinh thì cũng khá, hội Lộc Tồn, Hóa Lộc đại phú, gia Tả Hữu Xương Khúc cũng giàu. Gia Tứ Sát Không Kiếp tài lộ không bằng phẳng, trong đời có lần phá sản. Liêm Trinh Tham Lang tại Tỵ Hợi, hoạnh phát hoạnh phá, đặc biệt thích Hỏa Linh đồng cung vì có thể hoạnh phát bạo phú, đồng cung với Lộc Tồn Hóa Lộc cũng giàu có. Nếu không có cát tinh gia hội thì vất vả gian khổ mới kiếm được tiền, chủ vất vả mưu sinh qua ngày.

廉贞天相在子午, 富裕, 逢吉化并吉星大富, 宜为商贾. 逢四煞空劫化忌困穷, 破败.

Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tý Ngọ, giàu có, nếu gặp cát tinh cát hóa thì đại phú, có thể là cự thương. Gặp Tứ Sát Không Kiếp Hóa Kỵ thì nghèo khó, phá sản.

廉贞七杀在丑未, 加吉星大富, 不加吉, 手艺求财, 见凶星, 财寡, 纵发也会大破败, 四煞冲破, 贫穷. 未比丑吉.

Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu Mùi, gia cát tinh thì cát hóa, nếu không có cát tinh thì kiếm tiền dựa vào tài thủ công mỹ nghệ. Gặp hung tinh, tiền bạc ít, nếu có phát thì cũng sẽ đại phá sản, Tứ Sát xung phá, nghèo khó. Ở Mùi tốt hơn ở Sửu.

廉贞破军在卯酉, 一生财多成多败, 宜见好就收. 加会吉星, 遇禄存化禄或命宫有火铃主横发暴富. 无吉星同宫, 主财运平常, 遇擎羊空劫大耗, 贫无立锥.

Liêm Trinh Phá Quân tại Mão Dậu, tiền bạc trong đời thành nhiều bại cũng nhiều. Gia hội cát tinh, gặp Lộc Tồn Hóa Lộc hoặc mệnh cung có Hỏa Linh chủ hoạnh phát bạo phú. Nếu không có cát tinh đồng cung thì chủ tài vận bình thường, gặp Kình Dương Không Kiếp Đại Hao, thì nghèo.

★ 天府
Thiên Phủ

天 府为财库, 入财帛宫, 不论庙旺平闲, 皆主财帛富足丰盈, 并多有不动产. 与左右昌曲魁钺诸吉加会或同宫, 主利路平稳, 大富之命, 或在金融界担任官职. 与禄存, 化禄, 武曲, 紫微同宫加会, 亦主富奢. 天府守于财帛, 宜多置不动产. 能守财, 喜好储蓄, 动用金钱颇有计划, 擅长理财, 与禄存同宫虽富有, 但吝啬.

Thiên Phủ là tài tinh, nhập cung Tài Bạch, dù miếu vượng hay bình hòa, đều chủ tiền bạc đầy đủ sung túc, có nhiều bất động sản. Gia hội hoặc đồng cung với các cát tinh Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt thì chủ thuận lợi bình ổn, sống cuộc sống đầy đủ giàu có, hoặc đảm nhiệm công việc liên quan đến tài chính tiền tệ. Đồng cung gia hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Vũ Khúc, Tử Vi thì cũng chủ giàu có. Thiên Phủ nhập cung Tài Bạch, dễ có nhiều bất động sản. Có thể giữ được tiền, thích tích lũy, có tiền bạc và chi tiêu có kế hoạch, biết quản lý tiền, đồng cung với Lộc Tồn thì tuy giàu có nhưng keo kiệt.

天府四煞劫空耗忌, 成败不一, 财上多是非. 虽有旺财但破耗甚大, 多意外开销. 与截空, 旬空, 劫空同度, 则为空库, 财运不旺, 进必有出, 且易耗散. 入平闲之宫, 先难后易, 中晚年始获厚利.

Thiên Phủ Tứ Sát Không Kiếp Hao Kỵ, thành bại bất nhất, hay gặp thị phi về tiền bạc. Tuy có tiền nhưng hao phá nhiều, hay phải chi tiều ngoài dự kiến. Đồng độ Tuần Không, Triệt Không, Không Kiếp thì tài vận không thịnh, ắt hay phải tiêu pha, dễ hao tán tiền. Nhập cung bình hòa thì trước khó sau dễ, trung niên trở ra bắt đầu có thu hoạch, có lợi.

★ 太阴
Thái Âm

太 阴化富, 为财帛田宅主, 入财帛宫适得其所, 相对而言其财较为平稳, 庙旺财多. 陷地主财薄, 但仍须与同宫或加会之星曜相参方能定其贫富. 太阴庙旺, 富足多财, 遇禄存, 辅弼, 昌曲, 主大富, 再见吉化, 为富豪之命. 陷地成败难聚, 见吉化并吉星同值亦主富裕; 不遇吉星, 再加四煞刑忌辛苦中生财. 太阴庙旺, 早发, 犹多不动产, 陷地财运晚生. 与化禄或禄存同宫, 大富; 太阴化权, 大富, 善以财生财; 与左右魁钺同宫, 财运经久不衰; 与文昌文曲同宫, 以 艺招财, 富而有声名. 若科权禄左右昌曲魁钺会聚三方四正, 富可敌国, 贵不可言.

Thái Âm hóa phú, chủ về tiền bạc đất đai, nhập cung Tài bạch là thích hợp, tiền bạc tương đối ổn định, miếu vượng thì nhiều tiền. Hãm địa thì chủ ít tiền nhưng phải dựa vào các sao đồng cung hoặc gia hội thì mới có thể luận giàu nghèo. Thái Âm miếu vượng, giàu có sung túc, găp Lộc Tồn, Phụ Bật, Xương Khúc, chủ đại phú, nếu được cát tinh cát hóa thêm thì có số phú hào, giàu có lớn. Hãm địa thì thành bại khó tụ, gặp cát tinh cát hóa đồng chiếu cũng chủ giàu có. nếu không gặp cát tinh, lại gia Tứ Sát Hình Kỵ thì khó khăn mới kiếm được tiền. Thái Âm miếu vượng, sớm phát, nhiều bất động sản, hãm địa tài vận về sau mới có. Đồng cung với Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, đại phú. Thái Âm Hóa Quyền, đại phú, thường thì tiền mẹ sinh ra tiền con. Đồng cung với Tả Hữu Khôi Việt, tài vận kéo dài lâu không bị suy thoái. Đồng cung với Xương Khúc thì kiếm tiền nhờ kỹ nghệ, giàu mà có tiếng tăm. Nếu như Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt hội tụ ở tam phương tứ chính thì giàu có cỡ quốc gia, quý không để đâu cho hết.

庙旺化忌不忌, 若先贫日后也必富. 陷地化忌, 破财多非. 火铃羊陀同度, 破财不免.

Miếu địa không sợ Hóa Kỵ, nếu trẻ nghèo khó thì sau tất sẽ giàu. Hãm Địa Hóa Kỵ, phá tài lại nhiều thị phi. Hỏa Linh Dương Đà đồng độ, khó tránh phá tài.

★ 贪狼
Tham lang

入庙旺之地横发, 时有意外之财及偏财收入. 见火铃同宫, 暴富, 三十岁前多成败, 三十岁后猛进资财. 贪狼与禄存, 化禄, 火星, 铃星同宫或会照, 为富豪之命. 不见禄存化禄化权及火铃, 并无希望大发. 陷地贫困, 加空劫耗忌, 穷乏不堪.

Nhập đất miếu vượng thì hoạnh phát, có lúc có tiền ngoài dự kiến. Đồng cung với Hỏa Linh, bạo phú, trước 30 tuổi thành bại đều nhiều, sau 30 tuổi thì bắt đầu có tài sản. Tham Lang đồng cung hoặc hội chiếu với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hỏa Linh thì có số giàu bậc phú hào. Nếu không gặp Lộc Tồn Hóa Lộc Hóa Quyền và Hỏa Linh thì không có hi vọng đại phát. Hãm địa thì nghèo, gia Không Kiếp Hao Kỵ thì nghèo khó thiếu thốn.

凡贪狼入财帛宫, 皆主生性浪费, 一生破耗不小, 财运多有起伏. 若不加吉, 主过路财神, 东进西出, 财运欠稳, 时好时坏. 与羊陀空劫大耗同度, 必赌博倾家, 或因投机而招大破败, 与桃花星 ( 红鸾, 天喜, 沐浴, 天姚, 廉贞 ) 加会, 为美色而破财遭灾, 宜赚娱乐之财, 异性之财, 或经营色情行业, 以求趋避. 贪狼化忌, 财多破败, 并有官讼纠纷.

Hễ Tham Lam nhập cung Tài Bạch đều chủ bẩm sinh lãng phí, cả đời tiêu pha không ít, tài vận hay có nhiều thay đổi. Nếu như không có thêm cát tinh, chủ kiếm được tiền rồi lại phải tiêu tốn vào việc khác, tài vận không ổn định, lúc tốt lúc xấu. Đồng độ với Dương Đà Không Kiếp thì hay cờ bạc hoặc vì đầu cơ mà phá sản lớn, gia hội với Đào hoa tinh (Hồng Loan, Thiên Hỉ, Mộc Dục, Thiên Diêu, Liêm Trinh) thì vì sắc đẹp mà hao tài gặp họa, dễ kiếm tiền từ người khác phái hoặc tiền từ vui chơi giải trí, hoặc kinh doanh các ngành có liên quan đến sắc đẹp… Tham Lang Hóa Kỵ, tiền bạc hay bị phá tán, có tranh chấp kiện tụng.

多为经商之客, 宜从事冒险或投机事业, 或者同时经营多种事业, 且财路上多受异性之助, 与左右魁钺同宫或加会更验. 昌曲同宫, 外华内虚, 成败不一.

Thường là người kinh doanh, dễ làm các công việc mạo hiểm hoặc đầu tư, hoặc cùng lúc kinh doanh nhiều thứ, hay nhận được sự giúp đỡ của người khác phái về tiền bạc, đồng cung hoặc gia hội với Tả Hữu Khôi Việt càng rõ. Xương Khúc đồng cung, ngoài hào hoa mà trong thì hư hao, thành bại bất nhất.

★ 巨门
Cự Môn

巨门主是非, 乃口舌争斗之星, 入财帛宫, 闹中生财, 凭口才与脑力, 多系竞争口舌及争夺而来, 且主辛劳异常, 成败不一, 小人不足, 加遇众吉星, 主先难后易. 巨门化权, 化禄或与禄存同宫主大富. 昌曲同宫, 必是先出名而后得利. 左右魁钺同宫, 多受贵人助力, 财利平稳, 口舌不免.

Cự Môn chủ thị phi, là sao chỉ tranh đấu khẩu thiệt, nhập cung Tài Bạch, kiếm tiền trong lúc loạn, dựa vào tài ăn nói và đầu óc, nhờ vào tranh chấp ăn nói mà có, thường chủ vất vả lao động khắc thường, thành bại bất nhất, không làm vừa lòng kẻ tiểu nhân, nếu gặp thêm cát tinh thì chủ trước khó sau dễ. Cự Môn đồng cung với Hóa Quyền, Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn thì chủ đại phú. Xương Khúc đồng cung thì tất có danh tiếng rồi có lợi sau. Tả Hữu Khôi Việt đồng cung, thường nhận được sự giúp đỡ của quý nhân, tiền bạc thuận lợi bình ổn, nhưng khó tránh khẩu thiệt.

巨门居于陷地, 求财辛苦, 仍可得, 只是不富. 加四煞空劫, 主贫穷度日, 金钱常遭意外损失, 易起官非刑讼, 或因天灾人祸而破耗. 巨门化忌, 主竞争是非, 求财多咎, 并不亨快, 防遭大破.

Cự Môn cư đất hãm địa, tiền bạc khó cầu, tuy nhiên vẫn có thể có, chỉ là không giàu. Gia Tứ Sát Không Kiếp, chủ nghèo khó sống qua ngày, tiền bạc thường hay bị hao tổn thất thoát ngoài ý muốn, dễ sinh chuyện kiện tụng hình tù hoặc vì thiên tai hay nhân họa mà hao phá. Cự Môn Hóa Kỵ. chủ tranh chấp thị phi, hay gặp tai họa về tiền bạc mà không được hưởng sớm, nếu không dễ đại phá.

巨门守财帛宫, 若其人傲气十足, 目中无人, 自以为是, 则必遭横破, 钱财遭同事亲友算计.

Cự Môn thủ cung Tài Bạch, người kiêu ngạo, tự cho trời bằng vung, tất sẽ hoạnh phá, tiền bạc hay tính toán với bạn bè đồng nghiệp.

★ 天相
Thiên Tướng

庙 旺财帛丰足, 与禄存同宫最吉, 或与化禄同宫, 皆主大富, 与左右同宫亦富, 与昌曲同宫主财名皆佳. 陷地劳中生财, 白手成家, 加吉星中晚年方有家业. 加四煞, 劫空, 刑, 忌, 成败多端, 极难聚积. 羊, 陀, 火, 铃之一同宫, 贫乏, 四煞同会, 主大破败, 贫苦至极. 若吉凶混杂, 成败不一. 陷地加煞多因文书麻烦而破财.

Miếu vượng thì tiền bạc đầy đủ, đồng cung với Lộc Tồn là tốt nhất, hoặc đồng cung với Hóa Lộc cũng chủ đại phú, đồng cung với Tả Hữu cũng giàu, đồng cung với Xương Khúc thì chủ danh tiếng tiền bạc đều tốt. Hãm địa thì trong khi lao động mới có tiền, tay trắng lập nghiệp, gia cát tinh thì trung niên trở ra có sự nghiệp. Gia Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ thì thành bại đa đoan, rất khó tích lụ tiền. Đồng cung với 1 trong Dương Đà Hỏa Linh thì nghèo, Tứ Sát đồng hội thì chủ đại phá sản, nghèo khổ cùng cực. Nếu như cát hung tinh hỗn tập thì thành bại bất nhất. Hãm địa gia sát tinh thì vì vấn đề sổ sách mà phá sản.

★ 天梁
Thiên Lương

天梁乃清高之星, 并不主财. 凡天梁入财帛, 多在公家机关任职而领取薪金, 得财并不艰难. 但其人必重名甚于重利, 故常有为人作嫁的情形出现, 甚至常为他人之事而奔波耗财, 在财运上有名无实, 最劣者还会将送上来的财运拒之门外. 若庙旺财帛富足, 与禄存, 化禄, 太阴同宫会照, 主大富, 遇科权左右昌曲吉星尤美, 主大富和大贵.

Thiên Lương là sao thanh cao, nhưng không chủ tiền tài. Thấy Thiên Lương nhập cung Tài Bạch, thường làm việc lĩnh lương ở các cơ quan công ty, có tiền mà không khó khăn mấy. Nhưng danh nhiều hơn lợi, nên thường xuất hiện tình trạng gánh tội cho người khác, thậm chí vì chuyện của người khác mà tất tả hao phí tiền của, về tiền bạc hữu danh mà vô thực, thậm chí cự tuyệt tiền bạc do người khác biếu tặng. Nếu như miếu vượng địa thì tiền bạc sung túc, đồng cung hội chiếu với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thái Âm thì chủ đại phú, nếu gặp Khoa Quyền Tả Hữu Xương Khúc thì rất đẹp, chủ đại phú và đại quý.

天梁化禄或化权, 可赚赌财, 有煞星同值, 好赌, 但赌运不畅.

Thiên Lương Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, có thể kiếm được tiền từ cá độ, cờ bạc, có sát tinh đồng chiếu, thích cờ bạc nhưng cờ bạc thường không thuận.

天梁庙旺加四煞劫空, 财运平常, 并不主富. 天梁化禄或与禄存同宫, 虽富有, 但反增困, 会将自己钱财散与亲友和弱者. 与昌曲同宫, 先名后利, 以学问技术得财. 左右同宫, 财运平稳.

Thiên Lương miếu vượng gia Tứ Sát Không Kiếp, tài vận bình thường, không chủ phú. Thiên Lương đồng cung với Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, tuy giàu có nhưng từng có lúc khó khăn, sẽ bỏ tiền bạc của mình chia sẻ với bạn bè hoặc kẻ yếu hơn. Đồng cung với Xương Khúc, trước có danh sau có lợi, dựa vào tài học vấn, kỹ thuật mà kiếm được tiền. Tả Hữu đồng cung thì tài vận bình ổn.

陷地又不加吉, 辛苦求财, 若加四煞, 财务透支, 东挪西借, 求财先难后易, 但收入仅足度日.

Hãm địa lại không gia cát tinh thì chủ khó khăn về tiền bạc, gia thêm Tứ Sát, thiếu thốn tiền, hay phải vay mượn khắp nơi, kiếm tiền trước khó sau dễ, nhưng thu nhập chủ đủ sống qua ngày.

★ 七杀
Thất Sát

入庙旺闹中生财, 在寅申子午, 有意外财运, 纵不加吉, 也主横发. 七杀与禄存, 化禄, 化权, 化科同宫加会, 为富豪之命, 商界奇, 赚钱的能力过人. 左右魁钺同宫, 财旺并受贵人助力. 文昌文曲同宫, 富裕, 一朝横发.

Nhập miếu vượng thì kiếm tiền trong lúc loạn, ở Dần Thân Tý Ngọ, có tiền ngoài dự kiến, nếu không có thêm cát tinh thì chủ hoạnh phát. Thất Sát đồng cung gia hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì có số giàu cỡ phú hào, có khả năng kiếm tiền hơn người, hay là người kì tài của giới thương nghiệp. Đồng cung với Tả Hữu Khôi Việt, nhận đượ sự giúp đỡ của quý nhân về tiền bạc. Đồng cung bới Văn Xương Văn Khúc thì giàu có, có xu hướng hoạnh phát.

七杀入财帛, 来得快去得也快, 大多属过路财神. 人命逢之都有轻财浪费倾向, 毫无节约思想, 不看重蝇头小利. 七杀主暴发暴败, 纵加吉曜, 亦有倾颓之时, 尚能东山再起, 若加诸恶煞, 则难以重振雄风, 恢复元气. 与羊陀火铃同宫, 浪掷金钱, 成败起伏, 天灾人祸不断, 钱财破耗极大, 令人苦恼不已. 闲宫加四煞劳力求财, 四煞劫空刑忌会照, 一世奇穷.

Thất Sát nhập cung Tài bạch, tiền bạc đến nhanh đi cũng nhanh. Người này có xu hướng coi nhẹ tiền bạc, tiêu xài lãng phí, không có tư tưởng tiết kiệm, không coi trọng những cái lợi nhỏ. Thất Sát chủ bạo phát bạo phá, nếu gia cát tinh thì cũng có lúc giàu có, nếu gia nhiều hung sát tinh thì khó vượt qua được sóng gió để hồi phục lại. Đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh, lãng phí tiền bạc, thành bại thay đổi thăng trầm, hay gặp họa do người hay thiên tai, tiền bạc tiêu hoa cực lớn, dẫn đến tình trạng khổ sở phiền não. VÀo cung bình hòa gia Tứ Sát thì nhờ sức lao động mà kiếm tiền, Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ hội chiếu thì 1 đời nghèo khó.

★ 破军
Phá Quân

居庙旺之地, 逢左右, 禄存, 化禄, 化权并吉星多者, 一发如雷, 为巨富之命. 于子午宫, 多有金银宝贝, 玩字画蓄积, 见昌曲同宫, 主外华内虚, 看起来象个大款, 其实欠人一屁股债.

Cư đất miếu vượng, nếu gặp nhiều cát tinh Tả Hữu, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền thì nhất phát như lôi, có số cự phú. Ở cung Tý Ngọ thì thường tích nhiều vàng bạc châu báu, đồng cung với Xương Khúc thì ngoài hào hoa trong thì hư hao, nhìn bên ngoài giống như một đại gia nhưng kì thực là một kẻ nợ nần.

破军入财帛宫, 求财多是先破后赚, 但主人金钱耗费甚大, 为人有浪费倾向. 多投机取巧, 或经营冒险事业致富, 纵然加吉, 一生财运亦非顺畅. 不遇吉星, 有四煞同宫多主贫困. 与羊陀同宫, 即使发财亦会出现大破败. 与火铃同宫, 主横成横破, 财运起伏. 与劫空同宫, 必主贫穷, 若投机则最终会倾家荡产. 与文昌或文曲同宫, 却为凶兆, 为财寡清贫之象, 纵一时拥有, 终究是过手之财, 绝不能积蓄, 最终招穷, 而致贫困. 化忌同宫, 意外耗财, 并有争斗冲突与官非. 不论贫富, 其人之财运均不安定, 多频频转职或改变经营种类, 于开创更新中得财.

Phá Quân nhập cung Tài Bạch, thường trước trước phá sau mới kiếm được tiền, nhưng là người hay tiêu hao tiền bạc nhiều, có khuynh hướng lãng phí. Hay đầu cơ trục lợi, hoặc kinh doanh mạo hiểm mà giàu có, nếu không có thêm cát tinh thì 1 đời tài vận cũng không thuận lợi. Nếu không gặp cát tinh mà gặp Tứ Sát đồng cung thì chủ nghèo khó. Đồng cung với Dương Đà, tuy phát tài nhưng cũng sẽ có lúc đại phá sản. Đồng cung với Hỏa Linh, chủ hoạnh phát hoạnh phá, tài vận thăng trầm. Đồng cung với Không Kiếp, tất chủ nghèo khổ, nếu đầu cơ thì cuối cùng có thể dẫn đến cảnh khuynh gia bại sản. Đồng cung với Văn Xương hoặc Văn Khúc thì là điềm xấu, ít tiền sống cuộc sống thanh bàn, nếu 1 lúc nào đó có tiền thì cũng sẽ nhanh chóng trượt khỏi tay, tuyệt đối không thể tích lũy được, cuối cùng thì dẫn đến cảnh nghèo khó. Hóa Kỵ đồng cung, hao tài ngoài ý muốn, có sự tranh chấp xung đột và kiện tụng. Dù giàu hay nghèo, tài vận cũng không ổn định, hay phải thay đổi công việc hoặc thay đổi chủng loại kinh doanh, chuyển sang những gì càng mới mẻ thì sẽ có tiền.

破军居巳亥陷地, 其财易散难聚, 东倾西败, 如武曲会吉辛苦得财, 横成横破, 忌刑劫.

Phá Quân cư Tị Hợi hãm địa, tiền bạc dễ tán mà khó tụ, hay thất bại, như Vũ Khúc hội cát tinh thì vất vả kiếm được tiền, hoạch phát hoạnh phá, Hình Kỵ Kiếp. (?)

破军在寅申若无辅弼禄存及权禄同度, 为财薄之人, 且不聚财, 加昌曲或劫空火铃陀罗, 穷困潦倒. 辰戌宫之破军, 惟加会辅弼禄存或化禄始发, 不然亦主贫穷, 求财艰辛.

Phá Quân tại Dần Thân nếu như không có Phụ Bật Lộc Tồn và Quyền Lộc đồng độ thì là người ít tiền, không tụ tài, gia Xương Khúc hoặc Không Kiếp Hỏa Linh Đà La thì nghèo khổ. Phá Quân ở cung Thìn Tuất, nếu gia hội Phụ Bật Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì bắt đầu phát, nếu không cũng chủ nghèo, kiếm tiền khó khăn.

★ 文曲, 文昌
Văn Xương, Văn Khúc

居庙旺之地, 得众吉同宫或加会主富足, 并可得贵人之财, 财名皆旺, 先名后利, 财运顺遂久远. 加四煞空劫刑忌东来西去, 难聚积, 为贫寒之士.

Cư đất miếu vượng, được nhiều cát tinh đồng cung hoặc gia hội thì chủ giàu có sung túc, có thể nhận được tiền bạc từ quý nhân, danh tài đều có, trước có danh sau có lợi, tài vận thuận lợi mà lâu dài. Gia Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ thì hay bôn ba, khó tích tụ tiền, là người nghèo.

★ 左辅, 右弼
Tả Phụ, Hữu Bật

诸宫得吉星守照, 主财帛丰足, 顺遂久远, 有经营多项事业的迹象, 可得贵财, 加四煞空劫耗忌, 成败多端而难聚.

Nếu cung được nhiều cát tinh thủ chiếu thì tiền bạc đầy đủ, thuận lợi lâu dài, có dấu hiệu kinh doanh nhiều hạng mục, có thể nhận được tiền bạc của quý nhân, gia Tứ Sát Không Kiếp Hao Kỵ thì thành bại đa đoan mà khó tụ tiền.

★ 天魁, 天钺
Thiên Khôi, Thiên Việt

清高中生财, 钱财方面多遇贵人相助, 并得人缘, 遇到困难有人解救, 度过难关.

Phát tài trong sự thanh cao, về phương diện tiền bạc hay được quý nhân giúp đỡ, được lòng người khác, khi gặp khó khăn có người giúp mà vượt qua được.

★ 禄存
Lộc Tồn

主人生性节约, 擅理财. 主富足, 财积仓箱, 加众吉美不胜收, 堆金积玉, 不待劳而财自足. 加火铃劳中生财, 遇空劫有亦如无, 逢化忌吉处藏凶, 必有破败.

Chủ người bản tính bẩm sinh tiết kiệm, biết quản lý tài chính. Chủ giàu có sung túc, tiền bạc tích trữ được, gia nhiều cát tinh thì tốt, cất giữ tiền bạc châu báu, không phải làm việc mà tiền vẫn đầy đủ. Gia Hỏa Linh thì lao động mới phát tài, gặp Không Kiếp thì có cũng như không, gặp Hóa Kỵ thì trong cái tốt tiềm ẩn cái xấu, tất có lần phá sản.

★ 擎羊, 陀罗
Kình Dương, Đà La

主人生性浪费, 不善理财. 庙旺闹中生财, 陷地辛勤不聚, 加火铃东来西去, 终身不能发达, 加空劫耗忌, 必然贫困奇穷.

Chủ người bẩm sinh lãng phí, không giỏi quản lý tiền bạc. Miếu vượng thì kiếm được tiền trong lúc loạn, hãm địa thì làm việc vất vả mà không tụ tài, gia Hỏa Linh thì hay bôn ba, cả đời không thể phát đạt được, gia Không Kiếp Hao Kỵ tất nghèo khó.

★ 火星, 铃星
Hỏa Tinh, Linh Tinh

主人生性浪费, 不善理财. 入庙独守, 或入庙吉星守照, 横发横破, 陷地劳苦生财, 仍主贫. 加羊陀贫穷. 遇空劫耗忌, 赤贫, 食宿俱无.

Chủ người bẩm sinh lãng phí, không giỏi quản lý tiền bạc. Nhập miếu độc thủ, hoặc nhập miếu có cát tinh thủ chiếu thì hoạnh phát hoạnh phá, hãm địa thì lao động vất vả mới có tiền, vẫn chủ nghèo. Gia Dương Đà nghèo khó. Gặp Không Kiếp Hao Kỵ thì thiếu thốn đủ điều, nghèo khổ.

★ 天空, 地劫
Thiên Không (Địa Không), Địa Kiếp

主人生性浪费, 不善理财, 一生支出破耗, 财多得而复失, 有财不聚. 与凶星落陷同守, 财运极差, 纵然万分节约也不能富有, 有吉星入庙加吉化守照祸轻, 但虚耗不免.

Chủ người bẩm sinh lãng phí, không giỏi quản lý tiền bạc, trong đời hay phải bỏ tiền nhiều, kiếm được tiền rồi lại hết, không tụ tiền. Đồng cung với hung tinh lạc hãm thủ thì tài vận cực kém, dù có chi tiêu tiết kiệm mấy vẫn không thể giàu được, có cát tinh nhập miếu cát hóa trấn thủ thì họa nhẹ nhưng khó tránh hư hao.

★ 化禄
Hóa Lộc

赚钱能力强, 财运亨通, 并多意外之财, 一生绝无困乏时日.

Năng lực kiếm tiền tốt, tài vận hanh thông, hay có tiền ngoài dự kiến, trong đời chắc chắn không bị thiếu thốn.

★ 化权 .
Hóa Quyền

赚钱能力强, 财旺, 擅理财, 财富自勤俭和踏实经营而来

Năng lực kiếm tiền tốt, tài vượng, biết quản lý tiền bạc, tiền bạc kiếm được giàu có do tự cần mẫn lao động hoặc kinh doanh chính đáng.

★ 化科

Hóa Khoa

财运旺, 有侥幸之财, 或因名得利.
Tài vận thịnh, có chuyện vui về tiền bạc hoặc nhờ có danh tiếng mà được lợi.

★ 化忌
Hóa Kỵ

财运不佳, 财利难求, 是财薄, 破败, 劳碌, 竞争, 口舌, 是非, 不顺, 起伏等等诸多恶运的显示. 须与同宫之星宿参详而定.
Tài Vận không đẹp, có nhiều dạng vận xấu: ít hoặc thiếu tiền, phá sản, tranh chấp, lao động vất vả, khẩu thiệt, thị phi, không thuận lợi, thăng trầm… Cần phải xét các sao đồng cung kĩ càng mới có thể định được.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 26, 2012 in Nghiên cứu Tử Vi

 

Cự môn phối với Lục Sát (Không Kiếp Kình Đà Hỏa Linh)

Tác giả: tuetvnb
Nguồn: lyso.vn
http://lyso.vn/diendan/viewtopic.php?f=26&t=34189

Ngay từ đầu đã nói rằng Cự Môn là Hung tinh, chủ thị phi-ám muội “minh tranh ám đấu”. Bởi vậy, khi phối với Hung-Sát tinh thì đương nhiên là KHÍ CÁCH, tức là sẽ bị phá cách nặng mà cổ nhân phê rằng  “Hủ mộc nan điêu – như khúc gỗ đã mục nát, không thể đẽo gọt được thành cái gì cả. Kể cả khi Cự miếu vượng mà hội hung sát tinh thì cũng sẽ bị phá cách, không còn tốt đẹp nữa. Nhưng tùy theo mỗi nhóm Hung-Sát tinh mà sẽ có nhưng tác dụng khác nhau đến Cự Môn. Ta hãy thử tìm xem xưa nay người ta luận như thế nào về Cự gặp Hung-Sát tinh.

Đối với Không Kiếp : Địa Không-Địa Kiếp là một cặp sao Sát tinh đáng ngại nhất của Tử vi, thậm chí có người còn cho rằng “đóng đâu chết đó”. Vậy khi kết hợp với Cự Môn, thì đương nhiên sẽ làm tăng tính Hung của Cự Môn. Về cơ chế, thì lúc ấy cái “tính hung” của Cự sẽ phối với “tính hung” của Không Kiếp mà tác họa. Tính Hung của Cự Môn là Thị Phi, Ám Muội.. mà tính Hung của Không Kiếp là “giáng thương nhân, hình pháp, thất tài, cô đơn chi họa” – tức là giáng họa về thương tích, hình pháp, mất tiền, cô đơn. Cả hai “tính hung” này mà phối hợp với nhau thì khó lòng tránh được tại họa, ít nhiều thì cũng phải gặp phiền toái.

Đẩu số toàn thư có viết : Thử tinh hóa ám bất nghi phùng, canh hội sát tinh dũ tứ hung, thần xỉ hữu thương kiêm tính mãnh, nhược nhiên nhập miếu khả hòa bình – Nghĩa là, Cự môn hóa Ám tinh chẳng nên gặp làm gì, nếu lại hội sát tinh thì càng hung, môi răng dễ bị thương tích lại thêm cái tính mạnh bạo, làm việc gì cũng “nóng giận mất khôn” mà để lại hậu quả, nếu như Cự mà nhập miếu, thì may ra có thể được hòa bình

Như vậy, Cự gặp Không kiếp thì nên chú ý, ngoài việc mang thương tích vào môi-răng, nhưng quan trọng hơn cả là cái tính Thị Phi-Ám Muội của Cự bị kích động lên, cho nên thường tai họa sinh ra do hành xử nóng giận, vội vã, không kiềm chế được bản thân mình

Đối với Kình Đà : Kình – Đà là hai sát tinh cũng rất nặng nề của Tử vi, tác dụng của nó tuy có khác nhau, nhưng cổ nhân nhóm với Hỏa Linh và quy nó về Tứ Hung. Đối với Cự Môn, thì tác dụng của Kình – Đà có phần nặng nề hơn Không Kiếp. Trong cổ thư có viết về Cự-Kình-Đà một câu “Cự môn Tứ sát – hãm nhi hung” – tức là Cự Môn gặp tứ sát thì không những bị vây hãm, mà còn Hung. Khi Cự gặp Dương-Đà-Hỏa-Linh thì coi như bị phá cách nặng, không những không thể phát huy được (hãm), mà còn đem tai họa đến (hung)

Trần đoàn lão tổ có nhận xét rằng “Tham Hao đồng hành, nhân hảo đồ phối. Ngộ đế tọa tắc chế kì cường. Phùng lộc tồn tắc giải kì ách, trị dương đà nam đạo nữ xướng” – Nghĩa là, Cự môn mà gặp Tham-Hao đồng hành, thì như gặp người bạn tốt, gặp Tử vi thì có thể chế được tính cường ngạnh, gặp Lộc tồn có thể giải được ách, gặp Dương-Đà thì trai dễ trộm cắp, mà nữ dễ làm kỹ nữ.

(có nhiều thắc mắc trong câu này của Trần Đoàn lão tổ là Tại sao Cự lại có thể gặp được Tham hoặc Tử vi, về mặt an sao thì không thể, và cho rằng câu này là man ngôn. Nhưng về mặt phối hợp với nhau để luận đoán, thì trên lá số không hẳn chỉ có một sự phối hợp khi an sao, mà còn nhiều sự phối hợp khác nữa, vấn đề này cần suy ngẫm thêm)

Bình luận về Cự-Dương-Đà, Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng : “Cự môn dương đà vu thân mệnh tật ách luy hoàng khốn nhược đạo nhi xướng” – Nghĩa là, Cự môn Dương-Đà mà đóng vào Thân-Mệnh hoặc Tật Ách thì gày còm, vàng vọt, ốm yếu, dễ sinh trộm cắp hoặc kỹ nữ.

“Cự môn thủ mệnh kiến Dương Đà, nam nữ tà dâm” Người Cự môn thủ mệnh, nếu trong tam phương tứ chính mà hội Kình Đà, thì thường mang lòng tà dâm.

Với Kình Dương, phê rằng “Cự Hỏa Kình dương, chung thân ải tử” – tức là Cự mà gặp Hỏa linh, Kình dương, thì cuối đời cái chết không được bình thường (ải tử – là thắt cổ tự tử), nhưng dịch cho thoáng nghĩa thì nói như trên.

Với Đà la, Phú nói rằng Đà la đồng cư Thân Mệnh hoặc Tật Ách cung, chủ bần khốn, thể nhược tàn tật, tổ nghiệp phiêu đãng, bôn ba lao lục – Cự môn Đà la cùng đóng ở Thân, Mệnh hoặc Tật ách cung, thì chủ về nghèo khốn, thân thể yếu đuối, tàn tật, bỏ tổ nghiệp mà trôi nổi, bôn ba vất vả.

Ngoài ra, trong Toàn thư còn thêm một câu về hình tướng “Cự Môn, Đà La tất sinh dị chí” – Tức là Mệnh thân mà có Cự Môn, Đà La thì ắt là sẽ có nhưng nốt ruồi khác lạ (câu này bản phường chỉ nói rằng : Đà la tất sinh dị chí, mà không có Cự môn – cần chiêm nghiệm.

Đối với Hỏa – Linh : Hỏa Linh là hai Hung tinh cùng hàng với Không Kiếp Kình Đà. Phối với Cự Môn, thì cũng giống như những hung sát tinh trên, làm cho hung tính của Cự tăng lên mà tác họa. Tính của Hỏa Linh đặc trưng là yểu chiết, cho nên trong Tử vi còn gọi là Đoản thọ sát tinh. Chính vì vậy, mà khi gặp Hung tinh Cự Môn thì trong các cách cục đều phảng phất ý nghĩa này.

Như câu “Cự Hỏa Kình dương chung thân ải tử”, hoặc “Cự môn Hỏa Linh phùng ác hạn, tử vu ngoại đạo” – Cự môn mà gặp Hỏa Linh, nếu vào hạn ác thì có thể chết ngoài đường.

Đối với cách này, thì rất cần phải có Lộc tồn để hóa giải (như trên đã dẫn), và khi nhập hạn thì rất cần Tử vi để áp chế thì có thể hóa giải được cái sự hung hiểm của trường hợp này. Ngọc Thiềm tiên sinh phê rằng “Cự môn Hỏa Linh, vô Lộc tồn Tử vi áp chế, quyết phối thiên lý, tao hung” – Nghĩa là, Cự-Hỏa-Linh mà không có Lộc-Tử hóa giải, áp chế thì phải quyết là sẽ lấy chồng lấy vợ rất xa (thiên lý), mà sẽ gặp hung họa. Nhưng như bài trước đã viện dẫn, khi Cự môn cư Mão, người tuổi Giáp sẽ gặp Kình dương đồng cung, sẽ là hung cách chứ không hy vọng hóa giải được.

Và cuối cùng, có lẽ cũng căn cứ theo tính chất của Hỏa-Linh, thì xưa còn nhận xét rằng Cự môn thủ mệnh, tam hợp sát thấu, tất tao hỏa ách – Cự môn nhập mệnh, nếu trong tam hợp có Hỏa Linh hội về, ắt sẽ gặp hỏa ách

(câu này vẫn còn đang trong vòng nghi ngờ và tranh cãi, cho rằng nó được suy diễn ra từ tính chất của Hỏa tinh. Bởi lẽ Cự Môn thuộc Thủy, gặp Hỏa không có lẽ nào lại kích động hỏa tính của Hỏa tinh được – cần chiêm nghiệm thêm)

(Còn tiếp)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 26, 2012 in Cự Môn Nhàn Đàm

 
Image

My mèo bước sang 8 tháng tuổi

My mèo bước sang 8 tháng tuổi

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 25, 2012 in My Beloved Family

 
Image

Ella – Playing Piano

Ella - Playing Piano

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 23, 2012 in My Beloved Family

 
 
Tin mới

Góc nhỏ tâm hồn

Đoan Trang

Góc nhỏ tâm hồn

Góc nhỏ tâm hồn

Góc nhỏ tâm hồn

Góc nhỏ tâm hồn

giangle

Góc nhỏ tâm hồn

Trang chủ

Góc nhỏ tâm hồn

Dự đoán kinh tế Việt Nam

Blog tổng hợp tin tức nhận định về kinh tế Việt Nam

Chuyện thường ngày...

Góc nhỏ tâm hồn

CFO Viet

Góc nhỏ tâm hồn

BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

nước Mỹ, nước Mỹ

Góc nhỏ tâm hồn

saurieng

Góc nhỏ tâm hồn

Cavenui

Đã thấy - Đã nếm - Đã chán

Quê choa

(blog cũ của nhà văn Nguyễn Quang Lập)

Vuhavan's Blog

Just another WordPress.com weblog

THÔNG TIN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Các bài viết đăng trên weblog này chỉ có mục đích phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học không có mục đích thương mại